| |
Giáo
Hoàng Biển Đức XVI: Buổi Triều Kiến Chung hằng tuần Thứ Tư 23/8/2006
- Giáo Lý về Giáo Hội Hiệp Thông - Bài 18: Tông Đồ Philiphê
Anh
Chị Em thân mến:
Để
tiếp tục chấm phá chân dung của các tông đồ khác nhau, như chúng
ta đã làm ít tuần lễ vừa rồi, chúng ta hôm nay gặp gỡ tông đồ
Philiphê. Trong bản liệt kê 12 vị ngài luôn đứng ở hàng thứ năm
(trong Phúc Âm Thánh mathêu 10:3; Mk 3:18; Lk 6:14; Acts 1:13),
tức là thuộc thành phần đứng đầu quan trọng.
Cho
dù tông đồ Philiphê có gốc gác Do Thái, song tên gọi của ngài
lại là Hy Lạp, cũng như tên của tông đồ Anrê, một chi tiết cho
thấy dấu hiệu nho nhỏ liên quan tới chiều hướng cởi mở về văn
hóa là những gì không được coi nhẹ. Chi tiết chúng ta có được
đây xuất phát từ Phúc Âm Thánh Gioan. Ngài cũng ở cùng một địa
điểm với tông đồ Phêrô và Anrê, tức là ở Bethsaida (x Jn 1:44),
một tỉnh nhỏ thuộc tứ tỉnh dưới quyền một trong những người con
trai của Hêrôđê Cả, người con cũng mang tên Philiphê (x Lk 3:1).
Cuốn
Phúc Âm thứ bốn viết rằng, sau khi được Chúa Giêsu kêu gọi, Philiphê
đến gặp Nathanaen mà nói với Nathanaen rằng: ‘Chúng tôi đã gặp
được vị mà Moisen đã viết trong lề luật và các vị tiên tri viết
là Giêsu Nazarét, con trai của Giuse’ (Jn 1:45). Trước phản ứng
ngờ vực của Nathanaen – ‘Ở Nazarét có gì hay đâu?’ – Philiphê
vẫn không bỏ cuộc nhưng cương quyết trả lời rằng: ‘Hãy đến mà
xem’ (Jn 1:46).
Bằng
câu trả lời này, cứng cỏi nhưng rõ ràng, Philiphê cho thấy tính
chất của một chứng nhân chân thực: Ngài không thỏa mãn với việc
trình bày lời loan báo này như là một thứ lý thuyết, nhưng bắt
người đối diện phải tự suy nghĩ, khi đưa họ vào việc cảm nghiệm
lấy những gì được loan báo. Chúa Giêsu cũng đã sử dụng những động
từ này khi hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả đến hỏi xem Người sống
ở đâu: ‘Hãy đến mà xem’ (x Jn 1:38-39).
Chúng
ta có thể nghĩ rằng Philiphê đặt vấn đề với chúng ta bằng hai
động từ này là hai động từ bao hàm một thứ tham phần riêng tư.
Ngài cũng nói với chúng ta những gì ngài nói với Nathanaen: ‘Hãy
đến mà xem’. Vị tông đồ này thúc đẩy chúng ta hãy nhận biết Chúa
Giêsu một cách cận kề. Thật vậy, để thực sự nhận biết người khác,
tình hữu nghị đòi phải có sự gần gũi, đòi phải một cái gì đó hơn
nữa, đòi phải sống một cách nào đó bởi sự gần gũi này. Thật vậy,
chúng ta không được quên rằng, theo những gì Thánh Marcô viết
thì Chúa Giêsu đã chọn 12 vị với một mục đích chính yếu đó là
‘các vị ở với Người’ (Mk 3:14), tức là, các vị tham dự vào đời
sống của Người và trực tiếp học nơi Người chẳng những kiểu cách
tác hành mà nhất là biết được Người thực sự là ai.
Chỉ
có thế, chỉ nhờ được tham phần vào đời sống của Người, các vị
mới nhận biết và loan báo về Người. Sau này, trong Thư Thánh Phaolô
gửi cho giáo đoàn Êphêsô, chúng ta đọc thấy rằng điều quan trọng
đó là ‘Chúa Kitô được họ học biết’ (4:20), tức là điều quan trọng
không phải chỉ là hay trên hết là lắng nghe các giáo huấn của
Người, những lời nói của Người, mà là nhận biết Người một cách
thân mật, tức là nhận biết nhân tính và thần tính của Người, nhận
biết mầu nhiệm về sự mỹ lệ của Người.
Người
không phải chỉ là Thày, mà còn là một Thân Hữu, hơn thế nữa, là
Người Anh. Làm sao chúng ta có thể nhận biết Người nếu chúng ta
ở cách xa Người chứ? Tình thân, nghĩa thiết, quen thuộc, là những
gì làm cho chúng ta khám phá ra căn tính thực sự của Chúa Giêsu
Kitô. Đó chính là những gì Tông Đồ Philiphê nhắc nhở chúng ta.
Đó là lý do tại sao Người mời chúng ta hãy ‘đến’ mà ‘xem’, tức
là hãy tham dự vào việc lắng nghe, vào việc đáp ứng và vào mối
hiệp thông với đời sống của Chúa Giêsu từ ngày này sang ngày khác.
Vào
lần bánh được hóa ra nhiều, ngài đã được Chúa Giêsu yeuêcầu một
cách ngắn gọn song hết sức lạ lùng là: mua ở đâu cho đủ bánh để
nuôi tất cả mọi người đang theo Người bấy giờ (x Jn 6:5). Thế
rồi Philiphê đã thực tế đáp lại rằng: ‘Tiền lương mua ăn hai trăm
ngày cũng không đủ cho mỗi người một chút’ (Jn 6:7).
Ở
đây chúng ta có thể thấy tính cách thực tiễn và tinh thần cụ thể
của vị tông đồ này, vị đã phán đoán những gì được chất chứa nơi
trường hợp xẩy ra. Chúng ta biết về những gì xẩy ra sau đó. Chúng
ta biết rằng Chúa Giêsu đã cầm lấy những ổ bánh, rồi sau khi nguyện
cầu, đã phân phối cho các vị. Người đã hóa bánh ra nhiều là như
thế. Song có một sự kiện đáng chú ý đó là Chúa Giêsu đã nói riêng
với Philiphê, trong việc để có được ấn tượng đầu tiên về cách
giải quyết vấn đề ấy thì dấu hiệu hiển nhiên đó là việc Người
thiết lập một nhóm người hạn chế sống quây quần với Người.
Trong
một trường hợp khác, một trường hợp rất quan trọng đối với lịch
sử mai hậu, đó là trường hợp, trước Cuộc Khổ Nạn, một số người
Hy Lạp ở Gia Liêm vào ngày Lễ Vượt Qua, họ ‘đến với Philiphê…
mà yêu cầu ngài, chúng tôi muốn gặp Đức Giêsu. Philiphê đi đến
nói với Anrê; đoạn Anrê và Philiphê đến nói với Chúa Giêsu’ (Jn
12:20-22). Một lần nữa, chúng ta lại đứng trước một dấu vết về
cái thế giá đặc biệt của ngài trong tông đồ đoàn. Đặc biệt là
trong trường hợp này, ngài đã thi hành những nhiệm vụ của việc
làm trung gian giữa lời yêu cầu của một số người Hy Lạp – có lẽ
ngài nói tiếng Hy Lạp và có thể đóng vai thông dịch viên – và
Chúa Giêsu; mặc dù ngài liên kết với Anrê, một người tông đồ cũng
có tên theo tiếng Hy Lạp, song thành phần ngoại bang vẫn đến với
ngài.
Điều
này cũng dạy chúng ta hãy chẳng những sẵn sàng chấp nhận những
lời yêu cầu và khẩn cầu bất cứ từ đâu đến, mà còn dẫn họ đến với
Chúa Kitô nữa, vì chỉ có một mình Người mới có thể làm thỏa mãn
họ hoàn toàn mà thôi. Thật thế, cần phải biết rằng chúng ta không
phải là những người cuối cùng nhận được các lời yêu cầu của những
ai đến với chúng ta, mà là Chúa Kitô. Chúng ta phải dẫn đến với
Người những ai gặp khó khăn. Mỗi một người chúng ta cần phải trở
thành một lộ trình dẫn đến với Người!
Một
dịp nữa đặc biệt quan trọng có sự can thiệp của tông đồ Philiphê.
Trong Bữa Tiệc Ly, sau khi Chúa Giêsu khẳng định rằng nhận biết
Người cũng có nghĩa là nhận biết Cha (x Jn 14:7), thì Philiphê
hết sức ngây thơ xin Người rằng: ‘Thưa Tháy, xin tỏ Cha cho chúng
con, như thế là đủ cho chúng con rồi’ (Jn 14:8).
Chúa
Giêsu đã trả lời ngài bằng một giọng âu yếm trách móc: ‘Thày đã
chẳng ở với con một thời gian khá dài rồi hay sao mà con còn chưa
biết Thày ư Philiphê? Ai thấy Thày là thấy Cha. Vậy thì tại sao
con còn nói rằng xin tỏ Cha cho chúng con? Con không tin rằng
Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày sao? […] Hãy tin rằng Thày
ở trong Cha và Cha ở trong Thày’ (Jn 14:9-11). Đó là những lời
cao quí nhất trong Phúc Âm Thánh Gioan. Chúng chất chứa một mạc
khải chân thực. Ở cuối Lời Mở Đầu Phúc Âm của mình, Thánh Gioan
đã khẳng định rằng: ‘Không ai đã từng được thấy Thiên Chúa. Người
Con duy nhất, là Thiên Chúa, Đấng hằng ở với Cha, đã tỏ Cha ra’
(Jn 1:18).
Lời
phát biểu ấy, lời phát biểu của vị thánh ký này, đã được lập lại
và xác nhận bởi chính Chúa Giêsu, song chi tiết hơn. Thật vậy,
trong khi Lời Mở Đầu của Thánh Gioan nói về một thứ can thiệp
rõ ràng minh bạch của Chúa Giêsu bằng những lời lẽ của giáo thuyết
Người thế nào, thì nơi lời Người trả lời cho tông đồ Philiphê,
Chúa Giêsu đã nói tới chính bản thân của Người như vậy, dẫn chúng
ta tới chỗ hiểu rằng Người chỉ có thể hiểu được qua những gì Người
nói, hơn thế nữa, qua những gì Người là. Để giúp cho chúng ta
hiểu biết, bằng việc sử dụng cái nghich thường của biến cố Nhập
Thể, chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa đã mang một bộ mặt con
người, bộ mặt của Chúa Giêsu, nhờ đó, từ nay, nếu chúng ta muốn
thực sự biết được dung nhan của Thiên Chúa thì chúng ta chỉ việc
chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Giêsu! Nơi dung nhan của Người, chúng
ta thực sự thấy Thiên Chúa là Đấng nào và Ngài như thế nào!
Vị
thánh ký này không cho chúng ta biết tông đồ Philiphê có hoàn
toàn hiểu được câu nói của Chúa Giêsu hay chăng. Điều chắc chắn
là ngài đã hiến mạng sống mình hoàn toàn cho Người. Theo một số
trình thuật sau này (Cuốn ‘Tông Vụ Philiphê’ và những cuốn khác0,
thì vị tông đồ của chúng ta đây đã truyền bá phúc âm hóa ở Hy
Lạp trước tiên, rồi ở Phrygia, và ở đây ngài đã bị giết chết,
tại Hieropolis, do một cuộc hành hạ được một số người cho là bị
tử giá và một số khác lại nói là bị ném đá.
Chúng
ta muốn chấm dứt bài suy niệm của chúng ta bằng việc nhớ lại mục
đích đời sống của chúng ta nhắm tới, đó là việc gặp gỡ Chúa Giêsu,
như tông đồ Philiphê đã thấy Người, cố gắng thấy nơi Người chính
Thiên Chúa là Cha trên trời. Nếu thiếu việc quyết tâm này, chúng
ta thấy lẻ loi một mình, như đứng trước một gương soi, và chúng
ta càng cảm thấy cô độc hơn nữa! Trái lại, tông đồ Philiphê mời
gọi chúng ta hãy để cho Chúa Giêsu chiếm đoạt, hãy ở với Người
và chia sẻ cuộc thân tình bất khả châm chước này. Có thế, có thấy
Thiên Chúa, gặp Thiên Chúa, chúng ta mới có được một sự sống chân
thực vậy.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit
phổ biến ngày 6/9/2006 - Thoidiemmaria.net
|
|