| |
Nguyên văn bài diễn văn gây chấn động thế giới Hồi Giáo của Giáo Hoàng Biển Đức
XVI ngày Thứ Ba 12/9/2006 tại Đại Học Regensburg về niềm tin
và lý trí
(tiếp
20 Thứ Tư và 21 Thứ Năm)
Thần
học giải phóng trong thế kỷ 19 và 20 đã mở màn cho giai đoạn
hai trong tiến trình giải thể văn hóa
Hy Lạp, với Adolf von Harnack như nhân vật tiêu biểu nhất của
thứ thần học này. Khi tôi còn là một sinh viên, và vào những
năm đầu làm nghề giảng dạy của mình, thì cái cương lĩnh này cũng
đã có một ảnh hươởg lớn nơi thần học Công Giáo rồi. Nó được khởi
đi từ chỗ phân biệt của triết gia Pascal về vấn đề vị Thiên Chúa
của thành phần triết gia với vị Thiên Chúa của Abraham, Isaac
và Giacóp. Trong bài khai mạc của tôi ở Bonn năm 1959, tôi đã
cố gắng nói tới vấn đề này, và tôi không muốn lập lại ở đây những
gì tôi đã nói vào lúc bấy giờ, thế nhưng tôi muốn diễn tả vắn
gọn ít là những gì mới mẻ về giai đoạn thứ hai của việc giải
thể văn hóa Hy Lạp này. Ý tưởng chính yếu của Harnack đó chỉ
là việc trở về với con người Giêsu cũng như với sứ điệp bình
thường của Người, một sứ điệp nằm ở bên dưới những thứ bồi đắp
của thần học và thực sự của nền văn hóa Hy Lạp: sứ điệp bình
thường này được thấy như là tột đỉnh của việc phát triển về đạo giáo của nhân loại. Chúa Giêsu là vị được cho rằng đã chấm
dứt việc thờ phượng để hướng chiều về luân lý. Để rồi Người được
trình bày như là một người cha của thứ sứ điệp về luân lý nhân
đạo. Nói cho cùng thì mục đích của Harnack đó là đem Kitô Giáo
vào cuộc hài hòa với thứ lý trí tân tiến, tức là giải phóng Kitô
Giáo khỏi những yếu tố có vẻ triết lý và thần học, chẳng hạn
như niềm tin tưởng vào thần tính của Chúa Kitô và vào Thiên Chúa
Ba Ngôi. Như thế, việc dẫn giải Tân Ước theo kiểm nhận về lịch
sử, như ông thấy, là những gì đã trả về cho thần học vị trí của
thần học trong đại học: thần học, đối với Harnack, là một cái
gì đó có tính cách lịch sử thiết yếu, bởi thế thần học hoàn toàn
có tính cách khoa học. Những gì có thể nói theo nhận định về
Chúa Giêsu thực sự là một bày tỏ của thứ lý trí thực tiễn, từ
đó, nó có thể chiếm được thế đứng thật sự của mình ở đại học
đường. Đứng đằng sau việc suy nghĩ này là tính chất tự hạn hữu
mới của lý trí, những gì đã được đề cập đến theo kiểu cổ điển trong cuốn “Critiques” của Kant, thế nhưng đồng thời lại được cấp tiến hóa hơn
bởi ảnh hưởng của các ngành khoa học tự nhiên. Quan niệm tân
tiến này về lý trí, nói tóm lại, được căn cứ vào một cuộc tổng
hợp giữa chủ nghĩa Platonism (Cartesianism) và chủ nghĩa duy
nghiệm, một tổng hợp được củng cố bởi việc thành đạt của kỹ thuật.
Một đàng nó bao hàm cái cấu trúc toán học của chất thể, bao hàm
cái lý lẽ nội tại của cuộc tổng hợp này, cái lý lẽ để có thể
hiểu được chất thể hoạt động ra sao và việc sử dụng nó một cách
hiệu năng: cái tiền đề căn bản này thực sự là yếu tố của triết
lý Plato nơi kiến thức tân tiến về thiên nhiên tạo vật. Mặt khác,
năng lực của thiên nhiên tạo vật đang bị khai thác cho các mục
đích của chúng ta, và ở nơi đây, chỉ có khả năng kiểm chứng hay
xuyên tạc bằng thử nghiệm mới có thể thật sự nắm vững được vấn
đề mà thôi. Cán cân giữa đúng sai này, tùy theo hoàn cảnh, có
thể chạy từ bên này sang bên kia. Là con người mạnh mẽ theo thực
chứng chủ nghĩa, một tư tưởng gia như J. Monod đã từng tuyên bố mình là thành phần chấp nhận chủ nghĩa Plotonist/Cartesian.
Điều
này làm phát sinh ra hai nguyên tắc hệ trọng đối với vấn đề được
chúng
ta nêu lên. Nguyên tắc thứ nhất,
đó là chỉ có thứ xác nhận nào xuất phát từ việc tác động của
các yếu tố toán học và thử nghiệm mới có thể được coi là khoa
học. Bất cứ điều gì cho là khoa học đều phải được căn cứ vào
qui chuẩn ấy. Bởi thế, các khoa học về nhân văn, như lịch sử,
tâm lý, xã hội và triết học, cần phải tuân hợp với qui luật
của khoa học tính này. Nguyên tắc thứ hai, một nguyên tắc quan
trọng
cho những suy tư của chúng ta, đó là, tự bản chất của mình,
phương pháp này là những gì loại trừ vấn đề về Thiên Chúa, cho
vấn đề
ấy như là vấn đề phi khoa học hay tiền khoa học. Tóm lại, chúng
ta đang phải đối diện với một thứ thu ngắn phạm vi khoa học
và lý trí, một thứ thu ngắn cần được đặt lại vấn đề.
Tôi
sẽ trở lại với vấn đề ấy sau này. Lúc này đây, vấn đề cần phải
nhận định là, theo quan điểm ấy thì
bất cứ một nỗ lực nào muốn bảo trì việc cho thần học là ‘khoa
học’ đều tiến đến chỗ biến Kitô Giáo thành một đơn mảnh thuộc
bản chất trước kia của nó. Thế nhưng, chúng ta cần phải nói thêm
là: nếu tất cả khoa học là như thế và chỉ như thế mà thôi, thì
chính con người cuối cùng cũng bị biến giảm, vì những vấn đề
đặc biệt về con người liên quan tới nguồn gốc và định mệnh của
chúng ta, những vấn đề được tôn giáo và đạo lý gợi lên, bấy giờ
không có chỗ đứng trong nhãn quan của thứ lý trí vơ đũa cả nắm
được cho là “khoa học”, được hiểu là như thế, và như vậy thì
các vấn đề đặc biệt ấy cần phải được chuyển sang cho lãnh vực
chủ quan. Để rồi chủ thể là người, căn cứ vào kinh nghiệm của
mình, sẽ quyết định những gì họ coi là khả thủ nơi các vấn đề
về tôn giáo, và thứ “lương tâm” chủ quan sẽ trở thành một thẩm
phán viên độc đoán duy nhất về những gì có tính cách đạo lý.
Cho dù là như thế chăng nữa, luân thường đạo lý và tôn giáo cũng đã mất đi quyền lực của mình trong việc kiến tạo nên một cộng
đồng và hoàn toàn trở thành một vấn đề riêng tư cá nhân. Đó là
một tình trạng nguy hiểm nơi những sự vụ giành cho nhân loại,
như chúng ta thấy được từ những chứng bệnh đáng lo ngại về tôn
giáo và lý trí là những gì đang cần phải bùng nổ, khi mà lý trí
bị biến giảm đến nỗi những vấn đề về tôn giáo và đạo lý không
còn liên hệ gì với nó nữa. Những nỗ lực kiến tạo nên một thứ
đạo lý theo các qui luật của việc tiến hóa, hay theo tâm lý học
và xã hội học, đều là những gì sẽ tiến tới chỗ bị què cụt hụt
hẫng mà thôi.
Trước
khi tôi rút ra những kết luận từ tất cả những điều ấy, tôi cần
phải vắn tắt nói tới giai đoạn thứ
ba của việc giải thể văn hóa Hy Lạp là giai đoạn đang diễn tiến
hiện nay. Theo kinh nghiệm của chúng ta về tính cách đa nguyên
của văn hóa, ngày nay người ta thường nói rằng cái tổng hợp với
văn hóa Hy Lạp đạt được ở Giáo Hội vào lúc ban đầu là một thứ
hội nhập văn hóa sơ khởi không có hiệu lực trên các nền văn hóa
khác. Các nền văn hóa khác này được cho rằng có quyền trở về
với sứ điệp thuần túy của Tân Ước trước cuộc hội nhập văn hóa
ấy, để hội nhập sứ điệp ấy một cách mới mẻ vào môi trường riêng
biệt của chúng ta. Luận đề này chẳng những sai lầm; nó còn tồi
tệ và thiếu chính xác nữa. Tân Ước được viết bằng Hy ngữ và mang
dấu ấn của tinh thần Hy Lạp, một tinh thần đã tiến đến chỗ chín
mùi như Cựu Ước đã phát triển vậy. Thật thế, có những yếu tố
trong cuộc tiến hóa của Giáo Hội sơ khai không được hội nhập
vào tất cả mọi nền văn hóa. Tuy nhiên, những quyết định trọng
yếu về mối liên hệ giữa đức tin và việc sử dụng lý trí con người là những gì thuộc về chính đức tin; chúng là những tiến
triển hợp với bản chất của chính đức tin.
Giờ
đây tôi đi đến phần kết luận của mình. Nỗ lực này, một nỗ lực
được vẽ vời bằng những
đường nét phóng
đại, theo một thứ nhận định từ bên trong của lý trí tân tiến,
không có liên quan gì tới việc quay ngược kim đồng hồ trở lại
với thời gian trước Thời Minh Tri, cũng như trong việc loại trừ
đi những minh thức của thời đại tân tiến hết. Những khía cạnh
tích cực của tính cách tân tiến đều được công nhận một cách dễ
dàng: ở chỗ, tất cả chúng ta đều cảm nhận đối với những tiềm
năng tuyệt vời đang được mở ra cho nhân loại, cũng như đối với
việc tiến bộ chúng ta có được nơi nhân loại. Ngoài ra, tinh thần
của khoa học – như chính ngài Viện Trưởng đã nhắc tới – đó là
ý muốn tỏ ra thuận phục chân lý, nhờ đó, nó thể hiện một thái
độ vốn thuộc về những quyết định thiết yếu theo tinh thần Kitô
Giáo. Ý hướng này ở đây không phải là một ý hướng của sự cắt
xén hay của vấn đề tiêu cực kiểm định, mà là của việc nới rộng
quan niệm của chúng ta về lý trí và về việc áp dụng của lý trí.
Trong khi chúng ta hoan hưởng nơi những tiềm năng mới mở ra cho nhân loại thì chúng ta cũng thấy được những mối nguy hiểm
xuất phát từ những tiềm năng này ,nên chúng ta vần phải tự hỏi
làm sao chúng ta có thể thắng vượt được những thứ nguy hiểm ấy.
Chúng ta sẽ thành công trong việc làm điều này chỉ khi nào lý
trí và đức tin cùng nhau sánh bước một cách mới mẻ, chỉ khi nào
chúng ta thắng vượt được cái hạn hữu tự áp đặt của lý trí đối
với những gì là khả thực theo thử nghiệm, và chỉ khi nào chúng
ta một lần nữa vạch ra được những vùng chân trời rộng lớn của
lý trí. Theo chiều hướng này thì thần học mới đáng thuộc về đại
học đường và mới đáng thực hiện cuộc đối thoại bao rộng với các
khoa học, không phải chỉ như là một ngành về lịch sử và một ngành
của các khoa học nhân văn, mà thực sự là thần học, là việc thẩm
tra tính cách hợp lý của đức tin.
Chỉ
như thế chúng ta mới có thể thực hiện một cuộc đối thoại với
các nền văn hóa và tôn giáo
là những gì
hết sức cần thiết ngày nay. Nơi thế giới Tây phương, nhiều người
chủ trương rằng chỉ có thứ lý trí có tính cách thực chứng và
những hình thức của triết học theo thứ lý trí này mới có giá
trị phổ quát. Tuy nhiên, các nền văn hóa về đạo giáo sâu xa của
thế giới đều thấy việc loại trừ thần linh này khỏi tính cách
phổ quát của lý trí là một thứ tấn công vào những niềm xác tín
sâu xa nhất của những nền văn hóa ấy. Một thứ lý trí tỏ ra câm
điếc trước thần linh và đẩy tôn giáo vào lãnh vực của các thứ
hạ tầng văn hóa là một lý trí không thể nhập cuộc đối thoại với
các nền văn hóa. Đồng thời, như tôi đã cố gắng chứng tỏ, lý trí
khoa học tân tiến có yếu tố mang tính cách triết lý Plato sâu
đậm chất chứa nơi mình một vấn đề hướng về những gì ở ngoài chính
nó và ở ngoài cả những tiềm năng nơi phương pháp học của nó nữa.
Lý trí khoa học tân tiến hoàn toàn dễ dàng chấp nhận cái cấu
trúc hợp lý của chất thể, cũng như cái tương hợp giữa tinh thần của chúng ta với những cấu trúc hợp lý vốn có nơi
thiên nhiên tạo vật là những gì phương pháp học của lý trí khoa
học tân tiến cần phải dựa vào. Tuy nhiên, vấn đề tại sao sự việc
này cần phải như thế là một vấn đề thực sự, và là một vấn đề
cần phải được các ngành khoa học tự nhiên trả về cho các kiểu
cách và lãnh vực suy tưởng khác – tức cho triết học và thần học.
Đối với triết lý, và cho dù bằng đường lối khác nhau, đối với
cả thần học, thì việc lắng nghe những cảm nghiệm và những minh
thức cao cả nơi những truyền thống tôn giáo của loài người, cũng
như những cảm nghiệm cùng minh thức của riêng đức tin Kitô Giáo,
là một nguồn kiến thức, và việc coi thường việc lắng nghe này
sẽ là một thứ hạn chế bất khả chấp cho việc lắng nghe và đáp
ứng của chúng ta. Ở đây tôi nhớ tới điều triết gia Socrates nói
với Phaedo. Trong những cuộc đàm đạo đầu tiên của mình, có nhiều
ý nghĩ sai lầm về triết lý đã được nêu lên, nên Socrates đã nói:
“Thật là dễ hiểu khi có người cảm thấy khó chịu trước tất cả những thứ khái niệm sai lầm mà đối với cuộc đời còn lại của mình họ tỏ ra
kinh thường và chế nhạo tất cả những gì nói về hữu thể – thế
nhưng vì vậy mà họ lại bị hụt hẫng đi cái sự thật về việc hiện
hữu và phải chịu mất mát lớn lao”. Tây phương đã lâu bị nguy
hiểm bởi thái độ không ưa thích đối với những vấn nạn được tiềm
tàng nơi tính chất hợp lý của mình, và vì thế chỉ có thể phải
chịu đựng cái tai hại cả thể. Can đảm dấn thân cho tính cách
bao rộng của lý trí và không chối bỏ tính cách cao cả của nó
– đó là chương trình từ đó một khoa thần học được bắt nguồn từ
niềm tin theo Thánh Kinh mới có thể tham gia vào những cuộc tranh
luận của thời đại chúng ta. “Việc không tác hành hợp lý, không
hành động với logos, là điều trái với bản tính của Thiên Chúa”,
hoàng đế Manuel II đã nói như thế, theo kiến thức Kitô Giáo của
ông về Thiên Chúa, để đáp lại đối thoại viên người Ba Tư của
ông. Chính vì để tiến đến với cái logos cao cả này, đến với cái
rộng lớn của lý trí ấy, mà chúng ta kêu gọi đồng bạn của chúng
ta hãy thực hiện cuộc đối thoại về các nền văn hóa. Công việc cao cả của đại học đường
đó là liên lỉ tái nhận thức lý trí vậy.
(Đây
là bài diễn văn này dài nhất và quan trọng nhất trong 15 bài
nói của Giáo Hoàng Biển
Đức XVI trong
chuyến tông du thứ bốn 9-14/9/2006 của ngài tại một quốc gia
đã từng gây chia rẽ Kitô Giáo vào thế kỷ 16 và gây ra hai thế
chiến trong thế kỷ 20, nhưng lại là bài, nhờ phản ứng của thế
giới Hồi Giáo, đã được cả thế giới kỹ lưỡng đọc nhất, để nhân
loại thấy được, theo diễn tiến của lịch sử, cái cấu trúc nơi
niềm tin Kitô Giáo, một niềm tin đã là những gì làm nên văn
hóa Âu Châu huy hoàng trước đây, một nền văn hóa cần phải trở
về
với căn gốc đức tin Kitô Giáo đầy sáng suốt theo lý trí mới
có thể trở thành phương tiện truyền bá phúc âm hóa các văn hóa
hiện
đại bằng việc đối thoại văn hóa và đối thoại liên tôn)
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch
theo tín liệu - Thoidiemmaria.net
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/september/documents/
hf_ben-xvi_spe_20060912_university-regensburg_en.htmll
|
|