| |
Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình với chiều hướng của ĐTC trong
chuyến tông du thứ bốn
Sau
đây là nguyên văn bài viết của vị hồng y chủ tịch Hội Đồng Công
Lý và Hòa Bình của Tòa Thánh là Raffaele
Martino, bài viết được tờ L’Osservatore Romano phổ biến trong
số ra ngày 25/9/2006, mang tựa đề “The ‘Quaestio de Veritate’,
Kitô Giáo với Các Tôn Giáo Khác – Những Lời của Giáo Hoàng
Biển Đức XVI Nói trong Chuyến Tông Du ở Bavaria”. Sau đây là
nguyên
văn bài viết của vị hồng y.
Nhiều
lời phát biểu của Đức Giáo Hoàng trong tiến trình viếng thăm
Bavaria của ngài, từ ngày 9 tới 14
tháng
9, liên quan đến sự thật, bắt đầu từ một vấn đề thường xuất
hiện nơi những bài nói và bài giảng của vị Giáo Hoàng này, đó
là:
Kitô Giáo có thể vẫn còn được coi là hợp lý trước mắt con người
ngày nay hay chăng? Chúng tôi tin kính một Thiên Chúa, “phải
chăng điều này vẫn còn hợp tình hợp lý?”, ngài đã đặt vấn đề
trong bài giảng ở Islinger Feld vào buổi sáng 12/9. Thật vậy,
Tây phương xem ra đang trải qua tình trạng “khó nghe” và những
gì được nói về Thiên Chúa “làm cho chúng ta cảm thấy như là
những gì tiền khoa học, không còn thích hợp với thời đại của
chúng
ta nữa”, ngài đã nói như thế hôm Chúa Nhật, 10/9, trong Thánh
Lễ ngoài trời tại Neue Messe ở Munich.
Theo
Giáo Hoàng Biển Đức XVI thì vấn đề làm sáng tỏ mối liên hệ giữa
Kitô Giáo và sự thật, và vì thế giữa
Kitô Giáo và lý trí, là những gì hệ trọng, trước hết cho việc
tái truyền bá phúc âm hóa của thế giới Tây phương, cũng quan
trọng không kém cho việc thiết lập mối liên hệ giữa tất cả
mọi tôn giáo theo chiều hướng đối thoại và nhân nhượng. Những
khía
cạnh này cần phải được nói đến một cách phân biệt, cho dù chúng
liên hệ với nhau.
Kitô
Giáo là niềm tin vào Lý Trí Sáng Tạo, chứ không phải Vô Thức.
Ở Islinger Feld, Đức Giáo Hoàng đã đặt
vấn đề “Cái gì đến trước?” – và đã cống hiến hai câu trả lời
khả dĩ: “Lý Trí Sáng Tạo, Thần Linh Sáng Tạo, Đấng dựng nên
tất cả mọi sự và làm cho chúng phát triển, hay Vô Thức, cái mà,
dù
chẳng có nghĩa lý gì, cũng mang lại một cách nào đó cái vũ
trụ lớp lang theo toán học, cũng như con người cùng với lý trí
của
họ”. Tuy nhiên, câu trả lời thứ hai là những gì phi lý, vì
như thế lý trí của chúng ta sẽ chỉ là một thứ sản phẩm ngẫu nhiên
của vấn đề tiến hóa, do đó là sản phẩm của một tiến trình vô
tri. Niềm tin Kitô Giáo, Đức Giáo Hoàng đã kết luận, tin tưởng
“rằng Lời hằng hữu, với Lý Trí chứ không Vô Thức, hiện hữu
ngay
từ ban đầu của tất cả mọi sự”.
Tư
tưởng này cũng được lập lại ở bài “Lectio magistralis” tại Đại
Học Đường Regensburg: “Không tác hành theo
lý trí là điều trái nghịch với bản tính của Thiên Chúa”. Mục
tiêu có tính cách luận chiến nơi những lời phát biểu này của
Đức Thánh Cha đó là tình trạng tự hạn chế mình của lý trí Tây
phương. Kitô Giáo không còn hợp lý đối với con người Tây phương
vì họ đã chấp nhận một thứ ý nghĩ về lý trí suy giảm và thực
chứng, thứ lý trí chấp nhận là đúng chỉ những gì có tính cách
toán học và được thử nghiệm. Đức Giáo Hoàng đã diễn tả và cho
thấy những giới hạn của loại tính chất hữu lý này nơi bài nói
trong cuộc gặp gỡ các vị đại diện khoa học ở Đại Học Đường
Regensburg.
Nếu
“chỉ có thứ chấp nhận này, thứ chấp nhận xuất phát từ ảnh hưởng
của các yếu tố có tính cách toán học và
thử nghiệm mới có thể được coi là khoa học” ở Tây phương ngày
nay, thì chúng ta hiểu được “tình trạng khó nghe” ở những gì
liên quan tới Thiên Chúa. Lý trí thực chứng của Tây phương
đang bị cắt cụt đi một cách thê thảm lãnh vực liên hệ của chúng
ta
với thực tại và không thể hướng mình tới tính cách hợp lý của
niềm tin, tính cách hợp lý cần phải có chiều kích siêu hình
học. Thật vậy, ở Đại Học Đường Regensburg, Đức Giáo Hoàng đã
nhấn
mạnh đến nhu cầu cần phải “nới rộng quan niệm của chúng ta
về lý trí”.
Đây
là một vấn đề quan trọng cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo,
vì lý trí thực chứng cùng với các hình
thức triết lý căn cứ vào nó cho rằng mình có tính cách hiệu
năng phổ quát, nên có khả năng làm chủ toàn thể trái đất bằng
việc
phát triển về kỹ thuật. Thế nhưng, như thế là lý trí thực chứng
cùng với các hình thức trên đây đang ngăn ngừa một thứ đối
thoại chân thực giữa các nền văn hóa và tôn giáo. Chúng gay ra
một
thái độ “ngạo mạn coi việc chế diễu sự linh thánh là việc hành
sử quyền tự do và chủ trương thực dụng như là tiêu chuẩn tối
cao cho tương lai của việc nghiên cứu khoa học”; đó là những
lời được Đức Giáo Hoàng nói ở Munich tại Neue Messe hôm 10/9.
Khi
lên án “việc chế nhạo sự linh thánh”, Đức Giáo Hoàng không
chỉ có ý nói tới việc chế nhạo về Kitô Giáo
mà còn chế nhạo về bất cứ tôn giáo nào. Giáo Hoàng Biển Đức
XVI còn nói thêm vào dịp này là “việc nhân nhượng chúng ta hết
sức
cần đến bao gồm cả niềm kính sợ Thiên Chúa – việc tôn trọng
những gì người khác coi là linh thánh”. Như thế là Đức Giáo Hoàng
đã
chỉ trích cái ngông cuồng của lý trí Tây phương là những gì
đã bị giảm xuống thành kỹ thuật và tái khẳng định tầm quan trọng
của sự nhân nhượng và đối thoại được căn cứ vào sự tương kính
giữa các tôn giáo.
Thật
vậy, vẫn ở Đại Học Đường Regensburg, Đức Thánh Cha đã nói rằng:
“các nền văn hóa về đạo giáo sâu xa
nhất của thế giới thấy việc loại trừ thần linh này (việc loại
trừ gây ra bởi thứ lý trí thực chứng) khỏi tính cách phổ quát
của lý trí như là một cuộc tấn công vào những niềm xác tín
sâu xa nhất của họ. Một thứ lý trí câm điếc trước thần linh và
đẩy
lui tôn giáo vào lãnh vực của những thứ hạ tầng văn hóa thì
không thể nhập cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa được”.
Ở
Munich ngày 10/9, Đức Giáo Hoàng đã diễn tả cùng một quan điểm
thế này:
“Nhân dân ở Phi Châu và Á Châu
thực sự ca ngợi khả năng về khoa học và kỹ thuật của Tây phương,
nhưng họ đang phập phồng lo sợ trước một hình thức có tính
cách hợp lý hoàn toàn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi nhãn quan của
con
người”. Và ngài kết luận rằng: “Họ không thấy mối đe dọa thực
sự cho căn tính của họ nơi niềm tin Kitô Giáo, mà là nơi thái
độ khinh khi Thiên Chúa”.
Khi
chúng ta tái xác định mối liên hệ giữa Kitô Giáo và sự thật,
thì điều này không những không
ngăn trở
việc đối thoại với các tôn giáo khác, mà còn hướng tới một cuop65c
đối thoại sâu xa hơn, vì, theo trích dẫn từ một cuốn sách do
vị đương kim Giáo Hoàng này viết khi còn làm hồng y, “nếu chân
lý được cống hiến là có ý nhắm tới việc dẫn ra khỏi tình trạng
ghẻ lạnh, nhờ đó ra khỏi tình trạng chia rẽ; nó nhắm đến một
nhãn quan về một tiêu chuẩn chung, không gây bạo lực đối với
bất cứ một nền văn hóa nào mà là hướng dẫn nhau tới tâm điểm
của nó, vì mỗi một nền văn hóa đều hiện hữu tối hậu như là một
thứ mong mỏi sự thật” [Cardinal Joseph Ratzinger, "Truth and Tolerance: Christian Belief and World Religions," Ignatius
Press, San Francisco 2004, p. 66].
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được
Zenit phổ biến ngày 20/9/2006 -
Thoidiemmaria.net
|
|