| |
|
|
| |
Xin cho người mẹ một lời kinh |
|
|
GƯƠNG
HIẾU TRUNG
Chu
Vương
Mừng
lo cho cha
Đản Phủ người nước Bôn,
hiệu là Cổ Công, người lành, mến
bạn. Khi Đản Phủ chết, con là Quý
Lịch lên ngôi, sửa sang lại nghiệp nhà.
Được nhà An phong làm Tây Bá. Qúy Lịch lấy
công chúa Thái Nhân là bậc trinh trong và đức
hạnh. Bà mang thai Văn Vương và khi sinh
có con chim sẻ đỏ ngậm bức thư
son đến báo điềm lành. Văn Vương
từ nhỏ đã có đức và giữ lòng
thành khẩn chân thật. Cha là Qúy Lịch thường
nói: Văn Vương sau này sẽ làm cho nước
được lớn mạnh.
Sử chép rằng: Khi Văn Vương làm Thái
Tử, mỗi ngày vào cung hầu cha 3 lần: Sáng,
trưa và chiều tối. Mỗi lần đến
cửa phòng ngủ, hỏi người hầu:
- Cha ta hôm nay được an khang không ? Người
hầu nói:
- An khang. Văn Vương rất mừng. Khi
thân phụ không được an khang Văn Vương
đổi sắc mặt thành buồn rầu.
Đi đứng không yên. Khi dọn bữa Văn
Vương phải nếm thử xem đồ
ăn có hợp khẩu vị không rồi mới
dám dâng cha.
Người đời khen Văn Vương
hết tiết nghĩa bày tôi, hết tình hiếu
nghĩa.
2. Mẫn Tử Khiêm
Cảm
được lòng mẹ kế.
Mẫn Tồn, tự là Tử Khiêm, người
làng Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, đời
Nhà Chu. Mồ côi mẹ từ ngày còn nhỏ. Cha
phải lấy vợ kế về để
lo cho con và săn sóc việc nhà. Mẫn Tử
Khiêm vốn có lòng hiếu thảo với cha và
coi mẹ kế như là mẹ đẻ.
Khi bà sinh được 2 con gái thì bà dần dần
ghét bỏ con chồng. Bà thường mượn
chuyện xúi xiển, nói xấu về Tử Khiêm
cho chồng đủ điều cho hả giận.
Không ngờ cha lại thương con mất mẹ
từ sớm. Bà mẹ kế thấy lời
dèm không giá trị gì, lại càng thêm ghét cay ghét
đắng. Trời lạnh lẽo mà bà chỉ
cho mặc một chiếc áo mỏng, trong khi đó
hai con bà thì đủ loại áo bông, áo gấm,
cơm nóng canh ngon còn Mẫn Tử thì ăn cơm
canh lạnh ngắt. Nhưng Mân Tử muốn
cho các em được sung sướng, cho
mẹ kế được thỏa lòng,
thì cắn răng chịu đựng.
Nhân một buổi trời lạnh mùa đông,
Mẫn Tử phải đẩy xe cho cha đi
làm, run lập cập, đường trơn
trượt, làm Mởn Tử té đổ cả
xe. Cha thấy con rét mướt mặc không đủ
ấm, lấy sức đâu mà đẩy xe cho
cha. Cha mới tỉnh ngộ trở về mắng
trách vợ con và toan đuổi ra khỏi nhà.
Mẫn Tử Kiêm quỳ xuống trước
mặt cha mà rằng:
-Xin cha thương tình để mẹ ở
lại, để chỉ một mình con đói
rét, bằng nếu cha đuổi mẹ đi
thì cả 3 chúng con đều mồ côi khốn
khổ. Xin cha đừng đuổi mẹ.
Thương Mẫn Tử thật thà, có lòng thành
và thương người, cha bèn thôi giận.
Mẹ kế thụ ơn mà thay dạ đổi
lòng.
3. Tang Sâm
Động
lòng vì mẹ.
Tăng Sâm người làng Gia Trường, Tinh
Sơn Đông. Sinh vào đời Nhà Chu. Ông thờ
phụng cha mẹ rất có hiếu. Mỗi bữa
ăn Tăng Sâm thường tự xào nấu
các món ăn để cha mẹ dùng. Cha Tăng
Sâm thường thích ăn món thịt dê nướng.
Nhưng khi cha đã qua đời, Tăng Sâm không
nỡ ăn thị dê để cha khỏi thèm.
Nhân một hôm Tăng Sâm vào rừng kiếm rau
về hầu mẹ. Bỗng có khách đến
thăm. Trong nhà chỉ còn có một mình mẹ
già yếu không tiếp khách được. Bà
sốt ruột đợi con về mà chẳng
thấy, bà nghĩ đến tình cốt nhục
tình thân linh cảm, bà cắn vào ngón tay, Tăng
Sâm ở trong rừng quả nhiên động lòng
đau đơn không chịu nỗi, liền
rảo bước về nhà. Vừa trông thấy
mẹ ngồi thẫn thờ chờ con, Tăng
Sâm quỳ xuống hỏi duyên cơ. Bà nói:
- Mới rồi có khách đến thăm nhà, mà
không có gì tiếp đón. Đợi mãi không thấy
con về, mẹ cắn ngón tay để nhắc
nhớ con. Khách chờ lâu không được
đã bỏ đi rồi. Tăng Sâm tạ tội
không nhanh nhẹn.
Lần khác Tăng Sâm theo thầy Khổng Tử
sang đất Sở, lòng bỗng quặn đau,
nên vội cáo từ trở về thăm mẹ.
Mẹ nói:
- Khi ra đi con không hẹn ngày về, mẹ
nhớ con nên cắn ngón tay để nhắc
nhớ con. Không ngờ con đã trở về.
Mẹ vui rồi. Từ đó Tăng Sâm lo hầu
hạ mẹ già không đi xa nhà nữa
Đức Khổng Tử được tin,
ông rất vui khi nói với các đồ đề:
Đức hiếu thảo và lòng trung thành của
Tăng Sâm đáng gây xúc động cho người
muôn phương.
4. Thầy Tử Lộ
Đội
gạo đường xa lo cho cha mẹ.
Trọng Do tự là Tử Lộ, người
làng Biện, thời Xuân Thu Từ nhỏ ông đã
hay nóng giận, gây gỗ với hết mọi
người, nhưng lại thảo hiếu rất
mực với cha mẹ. Nhà lại nghèo, nhưng
ông cũng hết sức lo cơm nước
đậm đà sao cho cha mẹ vui lòng. Ở
địa phương giá gạo cao vọt, sinh
sống không dễ dàng. Nghe nói ở phương
xa ngàn dặm, gạo rẻ hơn, ông cũng
lặn lội đến đó mua gạo đội
về không quảng đường xa dặm
thẳm.
Ông cũng chẳng quản khuất phục tấm
thân làm công ở đợ để kiếm tiền
chi cấp cho gia đình. Đến khi cha mẹ
nối nhau qua đời, ông than khóc lâu ngày và tìm
đường chôn cất cha mẹ cho trọng
lễ.
Sau khi mãn tang, ông sang chơi nước Sở,
vua nước Sở nghe nói Tử Lộ rất
có lòng trung hiếu nên thăng quan tiến chức,
khiến thanh thế cực kỳ hiển hách..
Ông nhớ đến công ơn cha mẹ mà than:
- Nay ta sang trọng thật, nhưng đâu còn
cha mẹ để mà phụng dưỡng. Dù
có giết trâu tế mộ, cũng không bằng
mổ gà, xẻ lợn để phụng dưỡng
khi người còn sống.
5. Qúach cự
chôn
con để nuôi mẹ.
Quách Cự người huyện Văn Lâm, tỉnh
Hà Nam.
Cậu là người con rất có hiếu, sinh
vào đời nhà Hán bên Tàu. Sau khi cha mất, Quách
Cự thờ mẹ cơm bưng nước
rót, khiến thiên hạ đều khen là có gia
hạnh. Vợ Quách Cự cũng hết sức
trọn đạo với mẹ chồng, khiến
người người khen khen lả ho Quách
có con hiền dâu thảo, bà mẹ thấy
thế cũng được vui lòng.
Sau đó gặp năm hạn hán, ruộng đồng
bỏ hoang, người người thay nhau mà
chết. Gạo qúy như vàng, nhưng Quách Cự
vẫn một lòng hiếu thảo lo cơm nước
dâng cơm cho mẹ không thiếu một bữa,
còn mình với vợ chỉ ăn tấm cám, rau
cỏ cho đỡ đói lòng.
Giữa thời đói kém, con Cự mới lên
3, thấy vợ hay phải bớt chia phần
ăn của bà cho con, nên Quách Cự nói với
vợ:
- Năm nay mất mùa, gạo thóc mắc mỏ,
dân làng lại thêm đó kém. Mẹ cũng già rồi,
mình có hết sức phụng dưỡng còn sợ
không đương nỗi, nay con lại chia phần
ăn của mẹ, đến nỗi mẹ
không được no lòng. Đường cùng
chắc phải chôn con để cứu mẹ.
Nói đoạn hai vợ chồng nhìn nhau ứa
nước mắt.... May thay, trong lúc Cự cầm
thuổng đào đât, bỗng phát hiện một
thỏi vàng, trên khắc hàng chữ: Trời ban
cho người con có hiếu. Cự vô cùng sung
sướng liền hướng lên trời khấu
đầu bái tạ, cùng vợ ôm con trở về.
Chôn con nuôi mẹ, chỉ biết hiếu với
mẹ mà quên bẵng con mình, lòng chân thành đã
đủ để trời đất cảm
thông một tấm lòng hiếu thảo.
6. Mạo Dung
Dâng
thịt gà cho mẹ.
Mạo Dung có biệt danh là Qúy Vị, người
họ Trần Lưu, tỉnh Hà Nam, là người
con rất có hiếu với mẹ già, đồ
ăn ngọt bùi dâng cho mẹ không thiếu sót..
Một hôm đi cầy ruộng ngoài đồng,
gặp cơn mưa bão, người người
mau chân chạy đến trú dưới gốc
cây đa đầu làng, cười nói ầm
ỹ, trong khi đó Mạo Dung ngồi im lìm chẳng
nói chẳng cười, đưa mắt
gẫm suy sự đời.
Quách lâm Tông là cư sĩ đời Đông Hán
đi qua, nhìn thấy cảnh ấy, trong lòng lấy
làm lạ, liền tiến lại chào hỏi,
tình ý rất hợp nhau.
Sau cơn mưa tan, mọi người lại
vác cầy bừa ra đồng. Mạo Dung thì
mời Lâm Tòng về nhà nghỉ ngơi. Lâm Tòng
thấy Mạo Dung có tư chất tốt nên
không nỡ từ biệt, bèn theo Dung về nhà.
Mạo Dung giết gà làm cơm đãi khách, không
ngờ gà nấu xong, Dung bưng lên dâng cho mẹ
dùng, rồi mang thịt rừng, rau cỏ ra cùng
ăn với khách. Lâm Tòng kính phục là người
hiếu hạnh, liền phát biểu: "Anh quả
là bậc hiền sĩ. Lâm Tòng tuy nhà giầu,
mẹ già còn đó, tuy tiếp đãi khách khứa
bằng thịt bò, dê, lợn... nhưng không dâng
riêng cho mẹ, khiến khách không vừa lòng. Nay
anh lại dâng mẹ của ăn ngon, mà đãi
khách bằng đồ ăn chân thành, đủ
thấy hiếu hạnh là do tính trời. Lâm Tòng
này thật cảm phục. Anh sẽ là người
bạn tốt của tôi và sẽ giúp anh trên đường
học vấn để công được thành
danh được toại."
7. Hóan Sa
Con
dâu bán lụa nuôi mẹ.
Hoán Sa là cô gái bán lụa, xinh đẹp, nết
na đoan trang. Cô là người làng Vĩnh Gia,
Tỉnh Thẩm Châu, đời nhà Tấn bên Tầu.
Nhà nghèo, cha lại mất sớm, chỉ
nương nhờ vào mẹ. Đến tuổi
cài trâm, có người dạm hỏi, nhưng
cô cương quyết không lấy chồng. Bà
mẹ nói: "Con đã đến tuổi lấy
chồng mà không lấy, con muốn làm gái già suốt
đời ở với mẹ được
sao?" Cô trả lời: "Con gái lớn phải
lấy chồng, đó là lệ thường,
nhưng mẹ không biết ý con. Sở dị
con không muốn lấy chồng là vì khi cha
qua đời, mẹ đã cao tuổi. Con lại
không có anh em. Nếu con lấy chồng, thì mẹ
sẽ còn ai hầu hạ? Nhà lại nghèo, chỉ
một mình con kinh cửu theu thùa để kiếm
tiền tiêu dùng. Nếu nghĩ đến thân
con có nơi nhờ cậy, thì mẹ già nương
tựa vào ai? Trời sinh con người, trai gái
cũng như nhau. Con trai tận hiếu được,
con gái không tận hiếu được hay sao?
Cứ như ý con, kiếp này con nguyện theo
mẹ đến chết, không nỡ bỏ mẹ
mà đi lấy chồng."
Nổi giận làm vui, mẹ khuyên con: "Ngốc
cưng, con theo mẹ mãi được hay sao?"
Con nói: "Chí con đã quyết, thề không hối
hận. Biển có thể cạn, đá có thế
mòn, công ơn cha mẹ không bao giờ con quên.
Xin mẹ đừng lo lắng."
Vỉ vậy mà mẹ không bàn đến chuyện
hôn nhân của con gái nữa. Từ đó cô sớm
hôm chăm chi canh cửi, khiến người
ta tranh nhau mua hàng của cô. Bán được
tiền, cô đều dùng mua đồ ăn dâng
mẹ, chưa từng có chút thiếu thốn.
Mẹ thường nói: "Có con gái hơn cả
con trai. Ai bảo sinh con gái không được
nuôi được nuôi dưỡng lúc tuổi
già?"
Đến khi mẹ chết, sau khi lo xong việc
an táng cho mẹ, cô ôm đá gieo mình xuống sông
mà chết. Người đời lập miếu
thờ để biểu dương nết hiếu.
8. Cô Gái Họ Lý
Cắt
tóc thề nuôi mẹ.
Vào đời nhà Đường, có cô gái họ
Lý, người làng Khai Phong. Từ hồi còn nhỏ
cô đã có tính cương nghị, thờ cha mẹ
trọn đạo làm con, khiên cha mẹ qúy như
hòn ngọc. Năm lên tám tuổi thì cha mắc
bệnh mà chết. Cô khóc thương cha thảm
thiết đến không muốn sống. Nhà nghèo
đến không có tiền để mua áo quan cho
cha, nên phải liệm xác ở trong nhà, đợi
lúc có khả năng mới cử hành lễ an
táng. Do đó cô hàng ngày sớm tối khóc trước
linh cữu cha. Khi đến tuổi lấy chồng,
bà mẹ muốn nhờ người tìm cho cô một
tấm chồng, nhưng cô thưa mẹ: "Con
không muốn lấy chồng. Nguyện ở với
mẹ suốt đời. Con mong mẹ nhận
lời con". Mẹ nói: "Con gái lớn phải
lấy chồng là lẽ thường. Trên đời
làm gì có con gái ở với mẹ. Sao con khờ
thế?". Cô nói: "Con đi lấy chồng,
vậy còn mẹ thì sao? Bỏ mẹ mà lấy
chồng, con thà chết chứ không làm". Mẹ
khuyên con hai ba lần cũng không chịu. Cô khóc
xướt mướt rồi sẵn con dao trong
tay, cô cắt đứt mái tóc xanh trên đầu
rồi nói với mẹ: "Mẹ có thể
biết được lòng con rồi. Tóc có thể
đứt nhưng thân con không thể lấy chồng".
Từ đó cô không bao giờ lấy chồng.
Đến khi mẹ chết, cô lo chôn cất và
lo mồ cao mả đẹp cho tươm tất,
khiến quan trên khen ngợi lòng hiếu thảo
và phong tặng để biểu dương họ
nhà Lý.
9. Dương Hương
Tay
không đả hổ cứu cha.
Vào đời nhà Tấn bên Tầu, ở làng Thuận
Dương có cô bé tên là Dương Hương,
nổi tiếng là hiếu thảo từ lúc còn
nhỏ. Cô không bao giờ làm buồn lòng cha mẹ,
dù là việc rất nhỏ mọn. Khi lên 14 tuổi,
Dương Hương rất chăm chỉ
học hành, nhưng vẫn không xao lãng việc
bổn phận làm con. Đêm nào cũng thế,
Đương Hương cũng lo chăn màn
cho cha mẹ ngủ. Một hôm cha đi thăm
người bà con lối xóm, bị té trật
chân, không đi nổi, Dương Hương
nghe tin vội vàng đến cõng cha về. Lại
thưa cha: "Thưa cha, cha đã già yếu,
đi một mình không tiện... Cha có đi đâu
thì cho con theo hầu". Từ đó, mỗi
khi đi đâu, Dương Hương cũng
được đi theo để giúp cha.
Một hôm cha con đi thăm đồng lúa mãi
tận ven rừng. Vừa tới nơi thì một
con hổ vằn to lớn rống lên rồi nhào
tới đè lên cha già. Thấy cha bị hổ
vằn vồ rất nguy hiểm, lúc ấy trên
đồng ruộng lại không có người
để cầu cứu. Nghĩ đến thương
cha, Dương Hương dũng cảm lao mình
tới dùng hai tay đấm túi bụi vào đầu
con hổ. Có lẽ vì ngạc nhiên trước
sự dũng cảm của cô bé để bảo
vể cha, con hổ thụt lui lại đứng
nhìn, rồi cong đuôi chạy trốn vào rừng.
Cha con thoát nạn trở về an toàn. Mọi
người hết lời khen ngợi cô bé anh
hùng "Hiếu mạnh hơn uy". Về sau
người ta chép bài thơ này để tán dương
Dương Hương, cô bé có hiếu :
Giữa rừng gặp cọp tay không,
Dù rằng thú dữ quyết xông đánh liền.
Cha con đều được bình yên,
Miệng hùm đã thoát đoàng viên cùng về.
Trong niên hiệu Hồng Vũ (1369-1398), đời
Minh Thái Tổ, có Bao Thực Phu cũng được
tiến cử là người hiền tài. Có học
vấn thông hiểu các kinh sách nho gia, làm môn khách
trong nhà quan Thái, chuyên dạy trẻ học. Nhân
dịp đi dạo ngoài ven rừng, ông gặp
hổ chặn đường, ngoạm lấy
áo lôi vào rừng rồi thả ra ngồi nhìn con
mồi. Bao Thực Phu vái dài hổ một cái rồi
nói: "Ta nay lại gặp mày, bị mày ăn
thịt, âu cũng là số mệnh đã định.
Ta cũng không hận mày, nhưng trong nhà ta hiện
có cha mẹ. Nay mày ăn thịt ta, thì cha mẹ
ta lấy ai nuôi dưỡng". Hổ liền
tha mạng.
10. Dương Tất
An
mày nuôi cha mẹ.
Vào đời nhà Đường có Dương
Ất, thuộc làng Vu Kiều, là con nhà nghèo, nhưng
rất có hiếu. Hàng ngày Dương Ất thường
đi ăn mày về nuôi cha mẹ. Khi xin được
đồ ăn, ông tuy đói khát cũng đợi
dâng cho cha mẹ nếm trước rồi mới
ăn. Gặp khi xin được rượu,
ông qùy gối xuống đất, hai tay dâng lên,
đợi khi cha mẹ cùng nâng chén uống, Dương
Ất mới đứng dậy, vừa nhảy
nhót múa may, vừa ca hát để cha mẹ vui
cười. Ai nhìn thấy cũng khen là con
có hiếu. Hoặc có ai thương xót giúp đỡ
đồ dùng, tặng cho vàng bạc để
lo cho cha mẹ, thì ông lại từ chối không
nhận. Ông cho việc đó làm nhục cho cha
mẹ. Khi cha mẹ già nối nhau qua đời,
ông quyên góp tiền bạc để lo áo quan. Lại
cởi áo ngoài để liệm Chôn cất
cha mẹ rồi ông lại ngủ ngoài trời
bên linh cữu, ngày đêm khóc lóc không dứt tiếng.
Vào dịp giỗ chạp, ông lại tế mộ
chưa hề thiếu sót.
Nhiều lần quan sát thấy bên cạnh mộ
có dấu lạ, ông nghĩ có kẻ trộm chôn
dấu vật gì, ông đào lên xem, bỗng phát
hiện ra hố vàng, trên hũ có đề sáu
chữ "Trời cho hiếu tử Dương
Ất". Ất khấu đầu lạy tạ
rồi đem vàng về cải táng cho cha mẹ,
còn dư ông mua ruộng đất, dựng nhà
dựng cửa và từ đó ông trở nên giầu
có.
11. Cao Sài
Chịu
tang khóc ra máu.
Cao Sài, tự là Tử Dượng, người
nước Vệ, sống vào đời Xuân Thu.
Khi đấng sinh thành qua đời, ông buồn
rầu thương nhớ suốt 3 năm trường.
Không có lúc nào tươi cười, chỉ một
lòng khóc thương đến nước mắt
hóa máu thấm ướt khăn tang. Tiếng
đồn người hiền có hiếu khiến
nhà cầm quyền nước Lỗ trọng
khen ban chức quan huyện Sơn Đông. Sau được
thăng lên tới chức quan Tư Hình coi về
hình luật trong triều. Nhân có người phạm
lỗi đáng bị án tử, nhưng Tử
Dượng đã tha chết, chỉ bị hình
phạt chặt đứt một bàn chân.
Khi vua Vệ Công Trang và con là Xuất Công dấy
lên cướp ngôi cha, Tử Dượng bỏ
quan chạy trốn, đến cửa thành thì
gặp người bị chặt chân đang
đứng gác cửa thành. Ông mời Tử Dượng:
- Chỗ kia có lỗ hổng, có thể chui qua
được. Tử Dượng nói:
- Người quân tử không chui qua lỗ hổng.
Người bị chặt chân nhìn thấy quân
đang đuổi theo quan Tử Dương,
nên vô cùng âu lo, lại nói với Tử Dương:
- Chỗ này có nhà xin quan vào mau để khỏi
bị bắt.
Quân lính tiến đến hỏi người
bị chặt chân:
- Vừa rồi có người qua đây không?
Người bị chặt chân trả lời:
- Chưa từng thấy.
Đợi cho linh đuổi chạy xa rồi
Tử Dượng mới tìm lối ra khỏi
thành. Quan Tử Dượng hỏi người
bị chặt chân:
- Ta không thể làm trái luật pháp, chặt chân
ngươi, ngươi không mang hận, lại
tìm nhiều cách cứu ta là bởi tại sao?
Người bị chặt chân nói:
- Trước khi chặt chân tôi, ông đã muốn
gỡ cho tôi khỏi chết, chỉ cho chặt
chân tôi là hình phạt khoan hậu rồi. Yêu mến
e chưa đủ, làm gì có chuyện oán hận.
Khổng
Tử khen Tử Dượng là biết lấy
lòng nhân ái khoan thứ cho người.
12. Mạo Nghĩa
Dùng
lộc vua ban nuôi cha mẹ.
Mạo Nghĩa người làng Lữ Giang, huyện
An Huy, sinh hạ vào đời Đông Hán. Nhờ
hiếu hạnh mà được người
đời khen ngợi.
Sử chép rằng: Bấy giờ có ông Trương
Phụng, quê ở Nam Dương, từ lâu đã
khâm phục Mạo Nghĩa là người hiền
hiếu, ông đến thăm và bày tỏ lòng
ngưỡng mộ. Trong lúc Mạo Nghĩa đang
khiêm tốn tỏ ra ái ngại nhận tiếng
khen thì có hịch văn do Bản Phủ đưa
đến ủy cho Mạo Nghĩa làm quan làng
An Dương. Mạo Nghĩa sung sướng
hiện ra nét mặt. Trương Phụng tỏ
nét mặt khinh bỉ vì cho rằng Mạo Nghĩa
là kẻ háo danh tham chức, nên bỏ ra về
và không thèm gặp lại.
Mạo Nghĩa ra làm quan, lấy tài trị dân
lấy đức trị nước, nên được
quan trên khen ngợi là vị quan tốt, khiến
nổi danh một thời. Nhờ lộc vua ban,
Mạo Nghĩa ân cần phụng dưỡng
mẹ già cho tới khi khuất tịch. Sau khi
an táng mẹ xong, Mạo Nghĩa xin về ẩn
để thờ mẹ. Thấy người
tài về ẩn sợ uổng phí tài trai, nhà đương
quyền lại vời ra giữ chức Quan Huyện.
Mặc dù chức vị lớn hơn, nhưng
Mạo Nghĩa cũng nhất mực từ chối.
Trương Phụng nghe được chuyện,
luôn miệng tán thưởng: "Cái thành của
người hiền, kẻ phàm tục không ngờ
được. Nay mới biết Mạo Nghĩa
không vì ham chức-quyền danh-lợi mà chỉ
muốn làm vui lòng mẹ".
13. Phan Nhạc
Tưới
vườn nuôi mẹ.
Phan Nhạc, tự là An Nhân, người huyện
Trung Mâu, An Dương, sống vào đời nhà
Tân, bên Tầu. Hồi còn nhỏ, Phan Nhạc đã
nổi tiếng là người thông minh và tài hoa
nhất chúng ngang ngửa với thần đồng
Chung Quân. Thời đó có Giả Nghị và Tân
Vũ đời Tây Hán, là hai người học
rộng, tài cao và rất thông minh, Phan Nhạc thường
làm phú ca ngợi, nên tiếng tăm càng nổi.
Phan Nhạc được tiến cử
làm quan lệnh Hà Dương. Khi làm quan, ông thường
đưa mẹ đến nhiệm sở để
bàn chuyện. Khi rảnh rỗi công việc, ông
thường tự tay làm vường, trông hoa
và cây ăn trtái. Cây cối tốt tươi và
vườn hoa đẹp mắt, khiến kẻ
qua người lại đều khen. Vào ngày lành
tháng tốt trong năm, Phan Nhạc thường
sai người cáng mẹ đi chói, còn ông thì đi
trước cáng để làm, trò mua vui tặng
mẹ. Đến khi mẹ mắc bệnh, ông
xin từ chức quan ơn nhà phụng dưỡng
mẹ. Quan trên và bạn bè hết sức khuyên
ngăn nhưng Phan Nhạc từ chối: "Mẹ
tôi già yếu, tôi có một mình, không có anh em. Nếu
tôi xa gối mẹ thì không ai phụng dưỡng.
Nếu tiếp tục làm quan, lại phải
đưa mẹ đi. Nay mẹ bệnh, nhớ
làng quê, nếu tôi tham luyến địa vị,
bổng lộc, không chịu về phụng dưỡng
thì không chỉ lỗi đạo làm con mà còn không
xứng làm người. Tôi thà bỏ chức quan
này chứ không đành xa mẹ".
Sau khi đưa mẹ về làng, ngày ngày phụng
dưỡng mẹ già, ông còn giờ trồng rau,
tưới cảnh, thu lượm hoa mầu
bán lấy tiền, mua sắm đồ ngon vật
lạ để dâng mẹ.
14. Khương Thi
Lòng
hiếu cảm đến Cá Chép từ suối
vọt lên.
Khương Thị tự là Sĩ Du, người
Hán Châu, sống vào thời Nhà Hán, bên Tầu. Ông
cùng với vợ là Bàng Thị, thờ mẹ
rất có hiếu, đến làng xóm cũng phải
khen nhận. Suốt đời mẹ thích uống
nước sông, nấu trà thổi cơm cũng
bằng nước sông. Mẹ lại thích ăn
cá chép, đến nỗi bữa nào không có những
món đó thì mẹ ăn mất ngon và ngủ cũng
không yên.
Bàng Thị một hôm ra sống lấy nước,
vì đường xa chân yếu, nên trở về
hơi trễ. Mẹ khát nước muốn uống
trà mà nhà không có nước, khiến Thi rất
nóng lòng. Đến khi vợ về, Khương
Thi nổi giận mắng trách khiến vợ
bực bội im lặng không nói một lời.
Không giữ được lòng, Khương Thi
đuổi vợ ra khỏi nhà. Mẹ vợ
thấy con gái bị Thi ruồng bỏ, thương
con còn trẻ, bà đón con về cho tái giá. Vợ
Thi không chịu, nàng đến dãi bày tâm sự
với một bà già ở cùng làng. Biết là người
hiền đức, bà cho ở lại và giúp cho
việc làm thuận hợp. Sớm chiều nàng
chăm chỉ làm ăn kiếm tiền, mua cá
chép kho ngon rồi nhờ bà già đem sang nuôi mẹ
chồng. Quen dần thành chuyện thường,
lâu ngày mẹ chồng thấy cảm động
vì lòng thành của con dâu, bà đưa nàng về.
Mẹ chồng nàng dâu gặp mặt, buồn
vui lẫn lộn. Khương Thi cũng xin lỗi
vợ và vợ chồng lại hòa thuận như
ban đầu.
Khương Thi sinh được người
con trai, chàng thường sai con ra sông lấy nước.
Một hôm, con đi mãi đến tối không
về. Thi đi tìm con thì nghe người làng nói
nó bị té xuống sông chết đuối. Mấy
ngày không thấy cháu, bà liền hỏi, nhưng
vợ chồng Thi nói dối là con đi học
xa để mẹ yên lòng.
Không bao lâu, bên cửa nhà Khương Thi bỗng
vọt lên một con suối, nước ngon như
nước sông, lại mỗi ngày vọt lên đôi
cá chép để Thi lấy làm cá dâng mẹ. Từ
đó, vợ chồng Thi không phải lận lội
vất vả nữa. Những người biết
chuyện đều tấm tắc khen thầm:
"Vợ hiền chồng lành nên được
trời thương phù hộ để đền
đáp người con có hiếu".
15. Vương Tường
Nằm
trên băng, cầu được cá chép.
Vượng Tường tự là Hưu Trung,
người làng Lãm Nghi, Tỉnh Sơn Đông,
bên Tàu. Vương Tường không may có người
mẹ kế thất đức, hay nói xấu
Tường trước mặt cha để
cha ghét bỏ, nhưng Vương Tường
cũng rất mực kính yêu mẹ ghẻ. Mẹ
thường muốn ăn cá tươi vào mùa
đông băng giá, Vương Tường cũng
sẵn sàng cởi áo nằm trên băng cho băng
tan, để cá chép vọt lên mang về dâng
mẹ. Khi mẹ lại muốn ăn chim
sẻ vàng, Vương Tường giăng lưới
bắt hàng chục con cho thỏa lòng mẹ.
Mẹ muốn ăn táo đỏ, Vương
Tường cũng lặn lội vào rừng
sâu hái táo cho mẹ.
Bởi hiếu với mẹ nên khi có em kế,
nó cũng một lòng mến anh, bênh đỡ
anh trước mặt mẹ. Đến khi cả
hai anh em cùng lấy vợ, hai chị em dâu cũng
thương mến nhau.
16. Lục Tích
Để
dành quýt về dâng mẹ.
Lục Tích còn gọi là Công Kỷ, người
làng Hoa Đình, tỉnh Giang Nam, sống vào thời
Tam Quốc, bên Tàu. Vào lúc năm tuổi đã được
theo cha đi Cửu Giang để yến kiến
Viên Thuật.
Tướng quan Viên Thuật thấy Lục Tích
khôi ngô tuấn tú, lại thông minh, ăn nói lịch
thiệp, nên soa đầu Lục Tích mà nói với
cha Tích: "Đứa trẻ này ngày sau sẽ
nên danh phận đó ngài". Ông lại lấy
quýt đỏ cho ăn. Lục Tích thấy quýt
đỏ không giống loại quýt thường,
nên cho là quýt quý, không ăn mà bỏ vào bao đem
về dâng mẹ.
Đến khi đứng lên từ giã ra về,
bất ngờ quýt ở trong bọc rơi xuống
đất. Cha Lục Tích thẹn đỏ mặt.
Viên Thuật cười hỏi đùa:
- Cậu nhỏ làm tân khách mà lại ăn trộm
quýt à? Lục Tích trả lời:
- Mẹ cháu thường ăn quýt, thấy quýt
của tướng quân cho ngon, sắc đẹp,
nên cháu không ăn, để dành dâng mẹ, để
mẹ cũng được hưởng ơn
lộc của tướng quân. Tướng
quân cất lời khen ngợi:
- Còn nhỏ mà đã có lòng hiếu thảo. Ta cho
thêm mấy trái nữa đem về cho mẹ.
|
|