NĂM CHIẾC BÁNH VÀ HAI CON CÁ
Đức Cố Hồng Y Phanxico Thuận
CÂU CHUYỆN HÔM NAY:
Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI đã lập lại ngày PRO ORANTIBUS - dành để cầu nguyện cho các Dòng Chiêm Niệm – và kêu gọi mọi người giúp đỡ họ. BTGH xin giơi thiệu suy nghĩ của một nữ tu về TƯƠNG LAI CÁC DÒNG TU Ở CHÂU ÂU, cho thấy dù lạc quan đến đâu, thì sự sa sút về ơn gọi tu trì là điều ai cũng dễ dàng nhận thấy và giải đáp cho bài toán quá khó nầy vẫn chưa tìm thấy. Nhưng còn một thực tế đau lòng hơn, ở những nơi mà ơn gọi phong phú, nhưng lại phải đương đầu với những vấn nạn mà không chỉ bằng HY SINH – KIÊN TRÌ – THÁNH THIỆN TRONG CUỘC SỐNG TẬN HIẾN, có thể giúp vượt qua được. ĐÓ LÀ TRƯỜNG HỢP CÁC NỮ TU ở ĐẤT NƯỚC VÀ XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỘNG SẢN: dòng chiêm niệm không được công nhận; không có việc làm có thu nhập; phải sống dựa vào sự giúp đỡ về mặt kinh tế của các giám mục (vốn cũng chẳng dư giả gì, chưa kể đó là một sự phụ thuộc rất bấp bênh, khi vị giám mục từ trần,v..v..) Những ai đọc bài nầy - đặc biệt các nam nữ tu sĩ, nhất là các nũ tu - sẽ thấy “mắc nợ” những nữ tu người Trung Quốc, khi mà dù đang gặp bao khó khăn thử thách, thì phải thẳng thắn nhìn nhận rằng đời sống tinh thần, vật chất, tổ chức, sinh hoạt đạo đời và nhiều mặt công tác khác của các dòng tu nam nữ, nhất là các Dòng Nữ Ở VIỆT-NAM ĐÃ và ĐANG CÓ RẤT NHIỀU THUẬN LỢI. Phải làm gì để chia sẻ với những chị em ở Trung Quốc? Phải làm gì để thực sự SỐNG NGHÈO, TẬN HIẾN CHỈ ĐỂ PHỤC VỤ TRONG KHIÊM ẠH NGHÈO KHÓ không cbỉ về tinh thần, mà cả - và nhất là - về vật chất, yêu mến “CHỊ NGHÈO” như tinh thần Thánh Phanxicô Atxidi.
TƯƠNG LAI CÁC DÒNG TU Ở CHÂU ÂU
Dưới cái nhìn của Nữ Tu Ingrid Grave
Sœur Ingrid Grave, một nữ tu Dòng Đa Minh 71 tuổi, có một cái nhìn hiện thực về tương lai của các cộng đoàn dòng tu. Sẽ luôn có những con người chọn con đường sống nầy, nhưng họ không phải là một đám đông nữa. Thay vì dành trọn nghị lực cho lớp kế thừa, Sœur ưa thích hơn mời gọi các anh chị em cùng Dòng đi tìm những con đường mới mẻ. Sœur Ingrid Grave, là một trong những người thuyết trình tại hội nghị các tu sĩ nam nữ người Thụy Sĩ lần thứ ba diễn ra tại Fribourg từ ngày 05 đến 07 tháng 09 về chủ đề « Sự thay đổi xã hội ở Thụy Sĩ – Chúng ta sẽ đề ra chọn lựa nào ? ».
APIC (H). Tình hình hiện nay của các Dòng Tu rõ ràng là mang dấu ấn của vấn nạn kế thừa nghiêm trọng...
Sr INGRID GRAVE (Đ). Đúng vậy, xét theo căn bản thì đúng là trường hợp nầy. Các cộng đoàn dòng tu phải đóng cửa các nhà. Phần lớn các thành viên đã cao tuổi. Và các cộng đoàn cũng bận rộn với công việc tái cơ cấu. Chúng tôi buộc phải giở bỏ những cơ cấu xưa cũ của mình, đơn giản do hoàn cảnh bắt buộc. Còn một vài cộng đoàn luôn tiếp nhận những ơn gọi mới và đã tìm được một cách thức để thích nghi với một thế giới đã thay đổi. Theo quan sát của tôi, đó trên hết là những tu viện chiêm niệm cũ. Nhưng các dòng tu lớn, và nhất là các dòng nữ, gần như không có lớp kế thừa. Tôi nghĩ trước tiên đến tình hình của chúng tôi ở Châu Âu. Ở Nam Mỹ tình hình có phần hơi khác biệt.
(H). Do đâu mà xảy ra như thế ?
(Đ). Có nhiều lý do khác nhau. Các dòng tu gần như tất cả đều được sáng lập vào thế kỷ 19. Dòng của tôi cũng như vậy. Các cộng đoàn nữ tu Đa Minh của chúng tôi chỉ xuất hiện ở Thụy Sĩ vào năm 1865. Chúng phát triển mạnh mẽ trong suốt 100 năm và đạt con số 500 nữ tu. Thế rồi các con số cứ lùi mãi. Rất nhiều công việc ngày xưa do các dòng tu đảm trách đã bị nhà nước lấy lại: chăm sóc bệnh nhân, các trường học, trên hết là việc đào tạo phụ nữ, cũng như rất nhiều công việc xã hội. Thế giới phụ nữ cũng đã đổi thay. Nữ giới thế kỷ 21 rất khác với các phụ nữ thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Ngày nay họ tiếp cận với hầu hết mọi nghề nghiệp, cho dù vẫn chưa được chấp nhận hoàn toàn. Đó tuyệt đối không phải là trường hợp ở thế kỷ 19 cho tới giữa thế kỷ 20, đến mức gia nhập một dòng tu được coi như một hình thức giải phóng [phụ nữ]. Chúng tôi đã tham gia bấy giờ vào những phong trào giải phóng phụ nữ đầu tiên bên trong các Giáo Hội. Các nhà nữ phó tế nở rộ trong giáo hội tin lành cải cách.
Lúc ấy không có chuyện tự hỏi xem liệu người ta chấp nhận Giáo Hội hay không. Câu hỏi tự nó khẳng định. Vậy tại sao lại không gia nhập một tổ chức như Giáo Hội để có thể thực hiện một công việc lý thú? Cũng một cách tự nhiên do xác tín tôn giáo. Ngày nay, Giáo Hội không có được một hình ảnh đẹp đẽ. Gíao Hội Công giáo trước tiên bị mang tiếng là không chiếu cố nữ giới một cách đặc biệt. Người ta chỉ tin tưởng họ đến một mức nào đó. Do vậy nếu người ta không muốn lệ thuộc vào Giáo Hội nầy, thì có lý do gì lại gia nhập vào một dòng tu chứ? Theo ý tôi, đó là những lý do chính cho việc chúng tôi thiếu lớp kế thừa.
Người ta nói, các nữ tu phải là những « thiếu nữ tận hiến » của Giáo Hội. Nhưng với tư cách là những phụ nữ thế kỷ 20 và 21, chúng tôi hoàn tất một việc phục vụ Giáo Hội, bao lâu mà tinh thần trao ban chính mình biến thành một hình thức đối tác, do đức tin của chúng tôi vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã gọi các phụ nữ đi theo Người sau khi đã giải phóng họ khỏi các nỗi sợ hãi và bệnh tật (x. Lc 8). Điều đó là một sự khích lệ để vững bước tiến về tương lai Gíao Hội và đóng góp xây dựng xã hịôi ngày mai trong ý nghĩa của Tin Mừng. Đó là một thách đố mà chúng tôi còn phải nhận lời, ngay cả khi tuổi tác chúng tôi đã cao.
(H). Những thách đố lớn nhất cho tương lai các dòng tu nằm ở đâu ?
(Đ). Trước tiên, chúng tôi phải bỏ đi thái độ khư khư bận tâm không ngừng lo lắng tìm cho được lớp kế thừa. Những gì cần quan tâm hàng đầu là tìm hiểu làm thế nào chung tôi có thể ảnh hưởng xã hội nầy bằng linh đạo của chúng tôi. Và chính lúc nầy xuất hiện một chữ “nhưng” to tướng. Hình ảnh thế giới thay đổi một cách khó tin. Nhưng trong kinh nguyện của chúng tôi, thì đó luôn xuất hiện hình ảnh cũ của thế giới. Cũng tương tự như vậy ở cấp độ xã hội. Cơ cấu cũ đã rơi rụng. Phẩm trật đã nhường chỗ cho dân chủ, trong khi trong Giáo Hội chúng ta vẫn luôn có một cơ cấu theo phẩm trật. Cũng trong kinh cầu nguyện của chúng tôi, chúng tôi mô tả Thiên Chúa như một người nào đó ở trên trời, ngồi trên một bệ ngai, như trong ácc văn bản mà Giáo Hội giới thiệu cho chúng tôi, chẳng hạn như trong các thánh vịnh. Tôi không có gì phải chống lại các thánh vịnh, vốn là những bản văn vĩ đại. Nhưng chúng có niên đại 2 hoặc 3.000 năm và lưu hành một hình ảnh cũ xưa về thế giới. Chúng tôi luôn đọc chúng mà không hề tự đặt vấn đề. Chúng tôi không thể đề nghị lời cầu nguyện của chúng tôi cho xã hội nầy. Và điều đó cũng là trường hợp đối với rất nhiều bản thánh ca và chung chung, đối với các văn bản thánh lễ.
Chúng ta phải đề ra một hình ảnh khác về Thiên Chúa tring kinh nguyện của chúng ta. Điều đó sẽ cho phép phát huy một linh đạo đối với nhữn người nam và những người nữ có một sự tượng trưng Thiên Chúa mới mẻ hoặc chưa có được nó trong lúc nầy. Điều đó pảhi được diễn tả trong các kinh cầu nguyện của chúng ta, hầu cho mọi người có thể tìm thấy được một ngôn ngữ mới. Những người nam và những người nữ ngày nay không còn khả năng cầu nguyện nữa và tôi thấy điều đó thật là tai hại.
(H). Hình ảnh mới về Thiên Chúa xuất hiện như thế nào?
(Đ). Chắc chắn là hơn hình ảnh một Thiên Chúa ngự trị trên một ngai toà trên trời… Hình ảnh mà chúng ta phải truyền đi là hình ảnh một Thiên Chúa mời gọi chúng ta đến với tình yêu. Người là một sức mạnh, Người là một nguồn lực, Người bảo vệ che chở chúng ta, vì Người là tình yêu.
Và chính ở đó chúng ta đi đến một góc nguy hiểm: Vị Thiên Chúa nầy dẫn chúng ta đến một sự gì đó là tình yêu, nhưng tôi không thể nào cầu nguyện « một sự gì đó ». Phải truyền đi một hình ảnh Thiên Chúa mà từ hình ảnh đó tôi có thể cầu nguyện. Vị Thiên Chúa nầy phải là một “Ngài”, bằng không linh đạo chúng ta sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Chúng ta phải giữ khoảng cách một cách rõ ràng đối với những luồng tư tưởng bí truyền nầy vốn muốn làm cho chúng ta cảm nhận được một nguồn năng lưc trong một không gian. Nhưng nếu tôi không có một ai đối diện với tôi hết, thì không ai có thể đáp lời tôi. Dù vậy tôi vẫn tin rằng Thiên Chúa đáp lời. Chúng ta phải học hỏi lại cách cảm nhận những tiếng đáp lời nầy. Chính vì điều đó mà chúng ta được kêu gọi để truyền đi. Như vậy, chúng tôi có một tương lai. Chúng tôi sẽ còn xem dưới hình thức nào.
(H). Soeur nhìn thấy các dòng tu thế nào trong mười năm tới?
(Đ). Nếu tôi để sang bên tất cả mọi ảo tưởng và nếu tôi nhìn với đôi mặt thực tế và khách quan về tình hình nầy, trong mười năm nữa, hàng ngũ của chúng tôi sẽ còn bị thu hẹp lại hơn, một cách có ý nghĩa và còn rất ý nghĩa là đàng khác. Thế hệ của tôi sẽ không còn thuộc về thế giới nầy hoặc còn chăng thì cũng ngồi xe lăn. Chúng tôi thuộc những lứa cuối cùng và chẳng bao lâu nữa chỉ còn nhà hưu dưỡng. Chỉ có những cộng đoàn nhỏ duy trì một sinh hoạt ở bên ngoài. Và những cộng đoàn nầy sẽ còn phải tự hỏi một cách nền tảng hơn: Còn lại gì từ chúng tôi và ở đâu còn những khả năng thuyết phục người ta theo cách sống của chúng tôi? Sẽ luôn có những người sẵn sàng đi theo một con đường sống thế nầy thế nọ, nhưng không phải là đông đảo. Trách nhiệm của chúng tôi sẽ tập trung hơn về linh đạo. Chẳng hạn, chúng tôi sẽ không còn điều hành những bệnh viện lớn, nhưng sẽ dấn thân vào đó như những người chăm sóc phần hồn. Chúng tôi sẽ là những bệ phóng cho những người tìm kiếm đối thoại, dù họ có thể không còn tin tưởng vào Giáo Hội nữa, trong khi vẫn tỏ ra ít nhiều quan tâm tới Giáo Hội.
Một nghiên cứu vừa qua cho thấy rằng các thanh niên không muốn ràng buộc lâu dài với một tổ chức hoặc một cơ chế. Chúng ta đang sống trong một mọi trường văn hoá - biến cố. Sự cùng sinh sống tạm thời trong một cộng đoàn tu viện có thể đi theo chiều hướng của nền văn hoá nầy và - tại sao lại không chứ - với những hiệu quả dài lâu hơn về linh đạo của những người nam và những người nữ chia sẻ một khúc đời sống chúng tôi. Đó sẽ có thể là một điều may mắn đối với chúng tôi. Chúng tôi không cần phải bận tâm việc duy trì các cộng đoàn của chúng tôi, nhưng bận tâm với sự việc là sự dấn thân của chúng tôi phải hợp với mong mỏi của những con người.
Chúng tôi cũng ý thức trọn vẹn về một điều: cần phải thành những mạng. Các nữ tu Đa Minh chúng tôi bắt đầu bây giờ với việc dệt nên ngày một tốt đẹp hơn những mối liên hệ trong không gian nói tiếng Đức, nhưng cũng cả toàn thế giới. Có một “mạng lưới “Các Nữ Tu Đa Minh Quốc Tế” và những nhóm nhỏ như là “Các Nữ Tu Đa Minh Châu Âu”. Và một lần nữa, các nhóm nhỏ cho các quốc gia sử dụng tiếng Đức. Mục đích là hiểu biết nhau cận kề gần gũi hơn và cùng nhau bắt tay làm một điều gì đó, chẳng hạn những suy tư về hình ảnh thế giới hoặc những khóa hội họp về một chủ đề.
(H). Tiếp nối những gì Soeur gợi lên, theo Soeur thì hội nghị các nam nữ tu sĩ người Thuỵ Sĩ có ý nghĩa gì?
(Đ). Mỗi cộng đoàn bận tâm chữa chạy những đau khổ của chính mình và mô tả những nhóm chung quanh chính mình. Nhưng nay chúng tôi đã tụ họp nhau lại và chúng tôi nhận thấy rằng có một số lượng lớn nam nữ tu sĩ và như vậy chúng tôi có thể tăng thêm sức mạnh cho nhau. Chúng tôi có thể soi rọi thêm phần sáng sủa cho tình hình của chúng tôi. Nếu mỗi cộng đàon làm điều ấy cho mình, sẽ tiêu tốn rất nhiều năng lực mà lại không có được một sự soi sáng như thế. Cuộc gặp gỡ nầy cũng còn là môt sự đào tạo liên tục cho các dòng tu. Thêm vào đó là những tác động với bên ngoài: một lần chúng tôi được lưu ý đến. Chúng tôi có thể mô tả điều ấy như vậy: ”Chúng tôi luôn có mặt ở đó, cho dù một số người nghĩ rằng chúng tôi đã biến mất”. Đời sống nầy có thể vẫn còn đầy ý nghĩa ngày nay. Tôi thấy rất tôt nếu thông điệp nầy có thể lưu hành
(Nguồn : APIC 05.09.2008. Người ghi: Andrea Krogmann)
BTGH chuyển ngữ
NỮ TU TẠI TRUNG QUỐC:
NHỮNG NGƯỜI NGHÈO NHẤT TRONG HỘI THÁNH VÀ TRONG XÃ HỘI TRUNG-QUỐC
Sau đây là một lá thư gửi cho văn phòng chúng tôi. Tác giả bức thư là một người đang sống ở Trung Quốc nhiều năm, mà chúng tôi không muốn tiết lộ lý lịch của người đó vì những lý do an ninh.
-Ở nước Công Hoà Nhân Dân Trung Quốc, các dòng chiêm niệm bi cấm, nhưng các tu sĩ muốn sống cả bằng làm việc lẫn chiêm niệm. Trong cảnh bần cùng tuyệt đối, có những nữ tu sống chỉ với chưa bằng 100 euros mỗi năm.
Các Bạn qúy mến,
Tôi đã rất cảm động vì lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Biển-Đức vào ngày Chúa Nhật vừa rồi khi đọc Kinh Truyền Tin, khi Người lấy lại ngày 21.11 làm Ngày “Pro Orantibus”, ngày mà Hội Thánh dành riêng cho những người tận hiến cuộc đời để cầu nguyện trong tu viện. Đức Giáo Hoàng đã nói: ”Chúng ta hãy tạ ơn Đức Chúa cho những chị em và những anh em đã nhận lấy sứ mệnh nầy bắng việc hiến trọn chính mình để cầu nguyện và những chị em và anh em sống bằng những gì họ nhận đươc từ Chúa Quan Phòng”. Đức Thánh Cha Biển-Đức cũng yêu cầu hết thảy chúng tôi “ủng hộ các tu viện trong các nhu cầu vật chất “. Và Người nói thêm: ”Các chị em và anh em qúy mến, sự hiện diện của các con trong Hội Thánh và trong thế giới là không thể thiếu được. Cha ở gần bên các con và Cha hết lòng yêu thương âu yếm chúc lành cho các con”.
Cùng ngày hôm ấy, một nhóm các nữ tu đề nghị tôi mua cho họ một “mặt nhật” [hào quang] để chầu Thánh Thể. Lập tức tôi mua cho họ một cái mới với gía 1.400 nhân dân tệ, tức là khoảng 140 euros. Trong những năm làm việc vừa rồi nầy ở Trung Quốc, chú ý đến những người dân Trung Quốc nghèo khó nhất và “lao động sản xuất kém nhất”, tôi đã ghi nhận rằng những người bần cùng nhất Giáo Hội Trung Quốc chính là các nữ tu!
Ở Trung Quốc, một cách chính thức không có những dòng kín. Chính phủ đã bải bỏ chúng như là “không sinh lợi”. Nhưng kể từ thập niên 1980, đã có một sự gia tăng mạnh trong các cơ sở tu trì nữ giới, kết nối với cơ cấu của giáo phận. Đời sống của họ thật sự được ghi dấn bởi khó nghèo. :Lý do thì rất đơn giản:
Họ là các phụ nữ. Trong xã hội truyền thống – ngày nay vẫn còn như vậy trong khu vực nông thôn - họ là những ngừơi kém được giáo dục nhất và ít có cơ hội để học tập nhất. Cha mẹ họ chỉ đồng ý chi việc học hành cho họ khi nào cha mẹ họ đã bảo đảm vệic hịc hành cho các con trai, kể cả khi con gáo sinh ra trước. Điều nầy thừa nhận rằng các cháu gái được phép sinh ra, bởi vì việc nạo phá thai theo tuyển chọn thường được thực hiện đối với các phôi thai nữ. Nếu phụ nữ sau đó đi làm việc, thì họ không có được vai trò dễ chịu, cũng không được trả công thích đáng (thường là kém hơn nam giới 30 – 40 %). Các nữ tu và tập sinh phải phụ thuộc vào một Giám Mục (đó là trường hợp ở nơi nầy) và lệ thuộc vào những nguồn lợi kinh tế mà Ngài có thể để riêng ra giúp họ. Rất nhiều nữ tu phụ thuộc vào các giám mục cao niên vốn cũng nghèo khó. Nếu các vị giám muc nầy không công nhận [Giáo Hội « chui »], thì vấn nạn kinh tế trở nên còn nghiêm trọng hơn. Các vấn nạn phiền phức nhất nỗi lên khi một giám mục thuộc Giáo Hội « chui » qua đời. Trong trường hợp nầy, các nữ tu không còn nguồn hổ trợ nào nữa và cũng chẳng còn ai công nhận sự hiện hữu của họ. Thường xảy ra là cộng đoàn nầy sẽ tách ra làm hai: một số nữ tu tìm một giám mục [thuộc Giáo Hội được nhà nước công nhận] chính thức để sống sót, để được công nhận một cách hợp pháp như một dòng tu. Các tu sĩ bắt đầu thấy họ đang sống trong điều kiện kinh tế khó khăn và tiếp tục hiện hữu. Số còn lại trung thành với Giáo Hội “chui”, không còn được thừa nhận là một dòng tu nữa. Các nữ tu bắt đầu gặp đủ thứ khó khăn về kinh tế và những cuộc gặp gỡ của họ, vốn bất hợp pháp từ góc độ luật pháp, có thể khiền họ gặp rắc rối với công an. Cũng có một số nữ tu. ở trong Giáo Hội « chính thức », tự hỏi họ có phải còn thực sự là nữ tu hay không và điều nầy thực ra là vô nghĩa, nhưng gây cho họ biết bao đau khổ. Thỉnh thoảng các nữ tu, để có thể ở chung với nhau, cố gắng để được nhà nước công nhận như là một « hội » hoặc môt « hợp tác xã ». Luật không cho phép những người thuộc các tỉnh khác nhau được sống chung mà « hội » của họ không được phê chuẩn hợp pháp, nhưng thường chẳng ai phê chuẩn cho họ, vì ai ai cũng biết họ là những nữ tu sĩ! Đó là khởi đầu cuộc thương khó cho những người phụ nữ nầy, không có được sự công nhận chính thức, khi tiếp tục sống như các nữ tu. Tập sinh và nữ tu nào làm mọi sự để tìm một dòng tu có thể đem họ ra nước ngoài, giữa bao bất mãn, dèm pha và đau khổ. Trong tình hình bấp bênh nầy, nhiều ơn gọi bị mất hoặc mang những vết thương tâ lý và tinh thần sâu xa.
Trong mớ bòng bong hỗn loạn nầy, tôi đã xúc động mỗi khi có nữ tu đến gần tôi, rõ ràng là suy dinh dưỡng và ốm yếu. Tôi khám phá ra rằng họ có khoảng 100 euros để chi tiêu sinh sống một năm. Mặc dầu tất cả mọi sự họ đều cần đến, họ chỉ yêu cầu tôi mua cho họ một mặt nhật [hào quang], cái xài rồi cũng được, để họ nâng cao lời kinh nguyện tại giáo xứ mà họ làm việc. Trong tâm hồn tôi, ngay tức khắc tôi cảm tạ Thiên Chúa, vì lời cầu nguyện thực sự là mang lại cho chúng tôi sự sống. Tôi cũng đã tìm kiếm những tín hữu Công giáo khá giả để biến ước mơ nhỏ nầy của các nữ tu thành hiện thực.
Nguồn : AsiaNews ngày 20.11.2008
BTGH chuyển ngữ và giới thiệu.
ĐTC nhấn mạnh đến một điểm thiết yếu trong đời đan tu là ”Không đặt điều gì lên trên Chúa Kitô” (RB 72,11). Thành ngữ này mà Tu luật Thánh Biển Đức lấy lại từ truyền thống trước đó, diễn tả rất rõ kho tàng quý giá của đời đan tu được thực hành cho đến nay tại Tây phương cũng như Đông phương. Đó là một lời mời gọi tha thiết hãy uốn nắn đời đan tu để biến nó thành ký ức Tin Mừng của Giáo Hội và là mẫu gương về đời sống theo bí tích Rửa Tội”. ĐTC cũng khẳng định rằng ”khi các đan sĩ sống Tin Mừng một cách quyết liệt, khi những người tận tuỵ sống đời chiêm niệm toàn vẹn, vun trồng sự kết hiệp sâu xa với Chúa Kitô,... thì đời đan tu có thể là một ký ức cho tất cả các hình thức khác của đời sống tu trì thánh hiến về những gì là thiết yếu và có chỗ đứng tối thượng trong mọi cuộc sống theo phép Rửa Tội: đó là tìm Chúa Kitô và không đặt điều gì trên tình yêu Chúa”.
(Hiện nay, trong Giáo Hội có 12.876 nam đan sĩ sống trong 905 đan viện, bình quân mỗi cộng đoàn có 15 đan sĩ; 48.493 nữ đan sĩ sống trong 3.520 nữ đan viện, trong số này 2/3 tại Âu Châu).