CHƯƠNG IV
CÁC MẤU ĐIỂM THẦN HỌC TRONG THƯ GỬI GIÁO ĐOÀN PHILIPHÊ
----------------------------------------------------
DUY TRÌ SỰ HIỆP NHẤT TRONG TINH THẦN KHIÊM NHƯỜNG NOI GƯƠNG CHÚA GIÊSU
Sau khi khuyến khích tín hữu Philiphê can đảm kiên trì chiến đấu cho lòng tin, trong chương 2,1-11 thánh Phaolô mời gọi họ hãy duy trì sự hiệp nhất trong tinh thần khiêm nhường, noi gương Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa toàn năng, nhưng đã tự hạ mình sống thân phận hèn yếu của con người, ngoại trừ tội lỗi.
Chương 2 mở đầu với giọng văn trang trọng của một lời thề nguyền. Thánh Phaolô lấy lại chính lời của Chúa Kitô và lịch sử cứu độ để kích thích lòng can đảm của tín hữu và nâng đỡ những người sa sút tinh thần. Ngài nhắc tới các mối dây hiệp thông đã gắn bó ngài với cộng đoàn nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô cũng muốn thuyết phục tín hữu bằng cách nêu bật các tâm tình trìu mến và xót thương đối với họ. Và ngài mời gọi họ hãy làm cho niềm vui của ngài được trọn vẹn. Thật thế, thánh nhân vui sướng mặc dù đang bị cầm tù, và ngài vui sướng chính vì bị cầm tù vì Chúa Kitô và Tin Mừng của Chúa (1,18). Nhưng niềm vui của ngài sẽ trọn vẹn hơn, nếu các kitô hữu giáo đoàn Philiphê sống hiệp nhất, gắn bó và đồng tâm nhất trí với nhau. Rất tiếc là thánh Phaolô không xác định chuyện gì đã xảy ra trong cộng đoàn. Nhưng qua các lời ngài nhắn nhủ họ chúng ta có thể đoán ra sự chia rẽ giữa các nhóm khác nhau trong cộng đoàn. Một số người tự khoe khoang cho mình là hơn các anh chị em khác. Một số khác nữa thì làm việc vì cạnh tranh ảnh hướng và để lấy tiếng, và cũng có người làm việc vì tư lợi (2,3-4). Thật vậy thánh Phaolô viết trong chương 2,3-4: ”Anh chị em đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác”.
Thánh Phaolô khuyên tín hữu Philiphê xây dựng các tương quan giữa họ trên lòng khiêm nhường (= tapeinophrosýnê). Đức khiêm nhường không được đánh giá cao trong môi trường xã hội hy lạp, nhưng nó lại là nhân đức nền tảng của các thành viên cộng đoàn Do thái Qumrân. Thánh Phaolô cũng trình bầy nhân đức khiêm nhường như yếu tố cần thiết giúp bẻ gẫy thái độ kiêu căng trịch thượng gây ra các rạn nứt giữa các thành phần trong cộng đoàn. Theo thánh nhân, lòng kiêu căng ích kỷ, coi cái tôi của mình là trung tâm vũ trụ không thể có chỗ đứng trong cộng đoàn kitô. Thật vậy, bởi vì thái độ sống kiêu căng, ích kỷ đã là lý do gây ra biết bao nhiêu đổ vỡ giữa lòng cộng đoàn xã hội cũng như trong lòng cộng đoàn Giáo Hội, và đã tàn phá biết bao nhiêu ý hướng ngay lành và công trình xây dựng công ích. Thánh Phaolô khuyên tín hữu hãy coi người mọi khác hơn mình. Dành ưu tiên cho người khác và phục vụ nhau là hai tiêu chuẩn làm nòng cho lời nhắn nhủ cuối cùng ”Đừng tìm lợi lộc cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác”. Đây là lời khuyên thánh Phaolô thường lập đi lập lại với tín hữu các giáo đoàn do ngài thành lập như trong chương 10,24.33 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô: ”Đừng ai tìm tư lợi cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác”. Trong chương 13,5 cùng thư thánh Phaolô khẳng định rằng ”đức ái không tìm tư lợi”. Đây là các công thức thông thường trong lời nhắn nhủ thánh nhân dùng cho nhiều trường hợp tương tự xảy ra trong các cộng đoàn. Ở đây lời khuyên nhủ của thánh Phaolô xoay quanh ba trục chính là sự hiệp nhất, lòng khiêm nhường, và chú ý tới tha nhân.
Tuy nhiên, lý do chính sâu xa hơn nằm trong bài thánh ca kitô học theo sau đó, tức chương 2,5-11 và cũng là đơn vị văn chương thứ ba trong phần nhắn nhủ này. Thánh nhân dẫn nhập bài thánh ca với lời khuyên tín hữu hãy biết có những tâm tình như nhưng người sống trong Đức Kitô Giêsu. Một vài học giả coi lời khuyên sống trong Đức Giêsu Kitô ở đây có nghĩa đạo đức luân lý. Thánh Phaolô muốn giới thiệu Chúa Kitô như mẫu gương mà tín hữu phải theo. Trong trường hợp này ngài khuyên tín hữu biết noi gương sống của Chúa Kitô, đặc biệt là gương hiền lành và vâng lời của Chúa. Nhiều học giả khác lại nghĩ rằng kiểu nói ”en Christôi Iêsu”, ”trong Đức Kitô Giêsu” có cùng nghĩa với kiểu nói ”en Christôi”, ”trong Đức Kitô”, trong các thư khác của thánh Phaolô. Nghĩa là Đức Kitô tử nạn và phục sinh là môi trường sống mới mà các tín hữu được dẫn đưa vào nhờ ơn thánh Chúa. Như thế thánh Phaolô không có ý nhấn mạnh trên gương sống của Chúa Kitô, mà muốn nêu bật biến cố cứu độ do Chúa Kitô thành toàn và cho các tín hữu được hưởng nhờ. Trong trường hợp này thánh Phaolô khuyên tín hữu Philiphê có cung cách hành xử với nhau như là những người được kết hiệp một cách sinh động với Chúa Kitô. Đức Kitô, như vậy, không phải là mực thước đạo đức luân lý cho hành động của tín hữu, mà là nguyên lý tích cực của cuộc sống mới bao gồm một cung cách sống phù hợp với nguyên tắc đó. Nói cách khác, chính Đức Kitô xác định cung cách hành xử của kitô hữu. Chúng ta đang ở trong kiểu diễn tả đặc thù của thánh Phaolô: vì các kitô hữu là các thụ tạo mới trong Đức Kitô (x. 2 Cr 5,17), nên họ cũng phải có kiểu sống và cung cách hành xử mới theo tinh thần và luận lý của lòng khiêm nhường và vâng lời, là thái độ sống nền tảng của Đức Giêsu thành Nagiarét.
Bài thánh ca kitô học chương 2,6-11 là một hòn ngọc qúy được khảm vào nội dung thư gửi giáo đoàn Philiphê, nhưng việc giải thích nó gặp nhiều khúc mắc vì nhiều vấn nạn. Trước hết bài thánh ca là một sáng tác đã có trước, nhưng được thánh Phaolô dùng lại hay đã do chính thánh nhân biên soạn ra? Nếu nó là một bài thánh ca đã có trước thì phải gán cho môi trường nào đây: môi trường kitô gốc do thái hay môi trường kitô gốc ngoại giáo? Thế rồi bài thánh ca đã được sáng tác bằng tiếng Aramây là ngôn ngữ thông dụng của các cộng đoàn kitô gốc do thái hay bằng tiếng Hy lạp phổ thông trong các cộng đoàn kitô gốc ngoại giáo? Và sau cùng nó đươc dùng trong bối cảnh nào của cuộc sống Giáo Hội thời khai sinh: trong buổi cử hành bí tích Thánh Thể, hay trong lễ nghi ban bí tích rửa tội? Và từ phía thánh Phaolô ngài đã chỉ trung thực ghi lại nguyên văn bài thánh ca, hay đã sửa chữa thêm thắt điều gì? Đặc biệt các kiểu nói sau đây ra gây ra nhiều tranh luận giữa giới học giả: ”tôi nói chết trên thập giá” (c.8b); ”trên trời, dưới đất và nơi âm phủ” (c.10c); ”để tôn vinh Thiên Chúa Cha” (c.11b)
Cấu trúc bài thánh ca cũng gây ra vấn đề và cho tới nay chưa có giải pháp thỏa đáng. Nói chung giới học giả đề nghị ba loại cấu trúc. Cấu trúc thứ nhất chia bài thánh ca làm 6 phiên khúc, mỗi phiên khúc gồm ba hàng, trong đó ba phiên khúc đầu tập trung vào đề tài Đức Kitô tự hạ mình (cc.6-8), và ba phiên khúc sau trình bầy đề tài Ngài được vinh thăng (cc.9-11). Cấu trúc thứ hai chia bài thánh ca thành ba phiên khúc, mỗi phiên khúc gồm 4 câu khai triển ba đề tài liên quan tới cuộc sống từ đời đời của Đức Kitô (cc.6-7a), cuộc sống trên trần gian này (cc.7b-8) và cuộc sống trên thiên quốc (cc.9-11). Cấu trúc thứ ba chia bài thánh ca thành hai phiên khúc (cc. 6-8 và 9-11).
Tuy nhiên các tranh luận đặc biệt sôi động trên bình diện chú giải một vài từ. Cụ thể là làm thế nào để dịch từ ”morphê” trong câu thứ nhất của bài thánh ca: phải dịch là bản thể, điều kiện, hình ảnh, vinh quang hay kiểu hiện hữu? Từ ”harpagmós” (c. 6b) muốn ám chỉ việc cướp giật hay giật lấy điều gì, trong nghĩa chủ động, hay diễn tả một thực tại bị giật mất trong nghĩa thụ động? Các tranh luận đã khiến cho giới học giả tốn rất nhiều giấy mực. Nếu hiểu trong nghĩa chủ động, xem ra Đức Kitô đang sống trong tình trạng bị cám dỗ muốn được bằng Thiên Chúa, như Adam là người đã rơi vào chước cám dỗ của Satan trong vườn địa đàng xưa kia. Nhưng ở đây Đức Kitô đã chống lại chước cám dỗ đó. Nếu hiểu trong nghĩa thụ động thì Đức Kitô đã không ghen tương giữ gìn cho mình việc đồng hàng với Thiên Chúa như là hạnh phúc đã giật được. Kiểu nói ”to einai isa Theôi” có nghĩa là ”bằng Thiên Chúa” hay có nghĩa là ”được đối xử như thể là Thiên Chúa”? Sau cùng kiểu nói ”heautón ekénôsen” có nghĩa là ”dốc đổ chính mình”, ám chỉ sự kiện mặc lấy thân phận làm người hay ám chỉ cái chết của Đức Giêsu, theo ý kiến của học giả Jeremias, vì ông cho rằng kiểu nói này giống như văn bản của ngôn sứ Isaia chương 53,12 đề cập tới cái chết của Người Tôi Tớ Khổ Đau của Giavê Thiên Chúa: ”Người dốc đổ cuộc sống mình trong cái chết”.
Nói chung cho tới nay người ta đặt lại vấn đề liên quan tới một giả thuyết đã được mọi hoc giả chấp thuận. Đó là bài thánh ca chúc tụng Đức Kitô hiện hữu từ đời đời, nhập thể làm người và nhập thế, xuống trần gian sống điều kiện nhân loại giữa những người khiêm hạ nhất. Nhưng học giả Murphy O'Connor thì cho rằng kiểu đọc hiểu này là kết qủa của một lược đồ mà các học giả đã có trước trong trí. Dầu sao đi nữa bài thánh ca kitô học là một áng văn chứa đựng một sứ điệp tuyệt diệu diễn tả tiến trình cuộc sống của Đức Giêsu Kitô Đấng Cứu Thế.
Đức Ông Linh-Tiến-Khải