TÙ
NHÂN DO THÁI TIN VÀO ĐỨC CHÚA GIÊSU KITÔ
30-10-2007
... Sáng ngày 1-9-1944, khi chuông cửa gia đình Hòa Lan cho tôi ẩn núp vang
lên từng hồi, mọi người trong nhà hiểu ngay đến giờ bọn đức
quốc xã đến bắt tôi. Tất cả trốn mất, trừ mình tôi. Ba người
đàn ông tay cầm súng, hùng hổ xông vào nhà. Nhìn thấy tôi,
họ hét lớn ”Giơ tay lên” và tức khắc còng tay tôi lại. Năm
đó tôi vừa đúng 25 tuổi.
Vừa đến trạm, nhóm đức quốc xã mở ngay cuộc thẩm vấn. Họ muốn biết tên tuổi những
người giúp tôi có được thẻ căn cước và thẻ thực phẩm giả. Tôi
cương quyết không tiết lộ danh tánh những vị ân nhân không
Do-thái của tôi. Tôi chỉ cần nêu một tên đủ làm cho hàng trăm
người thuộc nhóm kháng chiến Hòa Lan phải thiệt mạng. Không,
tôi không thể phản bội các vị ân nhân của tôi. Tôi liền bị
tống vào hầm tối. Ngày hôm sau tôi bị chuyển đến Rotterdam,
miền Trung Hòa Lan. Tại đây tôi cũng bị tra hỏi về tên tuổi
những người cấp thẻ căn cước giả cho tôi. Tôi nhất định không
nói. Họ quyết định đưa tôi đến phòng tra tấn. Trên đường đi,
tôi tha thiết cầu nguyện cùng THIÊN CHÚA, THIÊN CHÚA của các
tổ phụ tôi, của Abraham, Isaac, Giacob. THIÊN CHÚA đã gìn giữ
Daniel khỏi nanh vuốt của sư tử và đã cứu sống ba thiếu niên
bị ném vào vạt dầu sôi. Và quả thật THIÊN CHÚA đã nghe lời
tôi kêu cầu.
Viên
đức quốc xã chuẩn bị cuộc tra tấn hành hung tôi. Tôi cất tiếng
nói:
-
Tại sao ông tốn công và mất giờ làm gì? Cứ giết tôi ngay, có
phải tốt hơn không? Tôi không sợ chết,
vì tôi tin tưởng nơi THIÊN CHÚA!
Nói
câu này xong, tôi bắt đầu nói về niềm tin nơi Đức Chúa GIÊSU
KITÔ, niềm tin tôi được
hồng ân nhận
lãnh trong thời gian tôi được các vị ân nhân Công Giáo giấu
ẩn tôi. Họ trao cho tôi cuốn Kinh Thánh gồm cả Cựu Ước lẫn
Tân Ước. Nhờ đọc Kinh Thánh đôi mắt tinh thần tôi mở rộng.
Tôi nhận ra Đức Chúa GIÊSU KITÔ chính là Đấng Thiên Sai,
Đấng mang ơn cứu độ đến cho loài người, cho trần gian ..
Tôi
say mê nói về Đức Tin và viên Đức quốc xã cũng say mê theo
dõi, quên mất nhiệm vụ phải tra tấn
tôi. Anh tỏ ra có thiện cảm với tôi. Chúng tôi nói chuyện
thân tình cho đến lúc mãn thời gian tra tấn. Viên đức quốc
xã mang
tôi trở lại phòng giam. Không hiểu bàn tay nhiệm mầu nào
bịt mắt các viên đức quốc xã khác, khiến họ không nhận ra tôi
không
mang dấu vết hành hung khi rời phòng tra tấn. Họ ra lệnh
tiếp tục giam tôi tại Rotterdam, trong lúc chờ đợi chuyến xe
chở
tôi đến lò sát sinh của trại tập trung Auschwitz bên Ba Lan.
Tôi
không nghi ngờ gì về cái chết gần kề. Nhưng tôi không hề
sợ hãi vì THIÊN CHÚA luôn ở bên tôi.
Tâm hồn tôi tràn ngập an bình. Tôi dùng thời gian giam cầm
để cầu nguyện và suy gẫm Lời Chúa. Lời Chúa tuôn đổ vào hồn
tôi cuộc sống hùng dũng và tinh khiết. Tôi thầm nghĩ:
-
Hitler có thể tước đoạt hết mọi cái nơi tôi, nhưng ông ta không
thể
nào khép kín cánh cửa Thiên
Đàng, đang rộng mở chờ đón tôi. Ông ta cũng không thể nào
ngăn cản luồng ánh sáng thần thiêng chiếu dọi tận nơi sâu thẳm
của
hầm tối đang nhốt tôi!
Vài
tuần sau khi bị bắt - kể từ ngày 1-9-1944 - đoàn xe cuối cùng
chuẩn bị chở lũ tù nhân Do-thái
chúng tôi
về trại giam sát sinh Auschwitz. Lạ lùng thay, đêm hôm đó,
bàn tay vô hình một lần nữa xóa bỏ ngôi sao vàng dán trước
cửa phòng tôi. Ngôi sao vàng là dấu hiệu của tù nhân bị di
chuyển đến trại Auschwitz. Nhờ phép lạ này, tôi là tù nhân
Do-thái cuối cùng sót lại tại trại Rotterdam. Tôi được cứu
thoát. Người ta đặt cho tôi biệt danh ”Người Do-thái cuối
cùng của Rotterdam”.
Tuy
nhiên, hiểm nguy bị bắn chết bất cứ lúc nào, vẫn còn đó. Đôi
lúc tôi bị ma quỷ quấy phá. Chúng
gieo vào đầu óc tôi tư tưởng đen tối và phản loạn chống lại
THIÊN CHÚA. May mắn thay tôi vượt qua được cám dỗ.
Vài
ngày trước khi chấm dứt thế chiến thứ hai 1939-1945, bọn đức
quốc
xã quyết định bắn chết tất
cả tù nhân thay vì trao sống cho quân đồng minh. Một cảnh
sát Công Giáo Hòa Lan mật báo cho chúng tôi và chúng tôi kịp
thời
trốn thoát.
Muôn
đời cảm tạ hồng ân THIÊN CHÚA và chúc tụng Danh Thánh Ngài
luôn mãi.
...
”Như thế, vì con cái thì đều chung một huyết nhục, nên Đức
Chúa GIÊSU đã cùng mang lấy huyết nhục
đó. Như vậy, nhờ cái chết của Người, Người đã tiêu diệt tên
lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ, và đã giải thoát
những ai vì sợ chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ.
Vì những
kẻ được Người giúp đỡ không phải là các thiên thần, mà là
con cháu Abraham. Bởi thế, Người đã phải nên giống anh em mình
về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng Tế nhân từ
và
trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho
dân. Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ,
nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Thư gởi tín
hữu
Do-thái 2,14-18).
(Lucien
Verschave, ”TÉMOINS SANS FRONTIÈRES”, Éditions du Lion de Juda,
1992, trang 41-44)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt - Vietvatican.net