Bài Trầm Thiên Thu
61- Món Quà Chay 2013
Lm. Phêrô Trần thế Tuyên 2/12/2013
Món Quà Chay 2013
 |
Ba tôi thường khuyên khi còn sống: “Làm linh mục, con nên chỉ giảng Lời Chúa, giảng ngắn, gọn, dễ hiểu. Xin thương giáo dân mình, tội nghiệp họ phải nghe những gì không là Lời Chúa và những gì họ không hiểu! Giọng của con lại lè nhè, thấp lè tè, dễ buồn ngủ lắm nên càng phải giảng ngắn!” Lời khuyên thiết thực của Ông giáo dân “kẻ cả” nầy đôi lần làm tôi do dự diễn đạt hay chia sẻ những suy tư cá nhân. Nhưng tôi vẫn muốn làm cái gì đó cho bà con giáo dân mình. Cái “muốn làm gì đó” xin được viết ra đây thành những suy tư cá nhân trên Lời Chúa trong Mùa Chay Thánh, phụng vụ năm C. Coi như một món quà chay, không chai cứng, chai lì, hay khô khan, nhưng đơn sơ, đạm bạc, và chân tình như con cá mùa chay. Là những gì rất là tôi trong suy nghĩ và trong cuộc sống hàng ngày của một linh mục chay (plain priest). Hy vọng nó ngắn gọn, dễ hiểu và mang chút ích lợi thiêng liêng cho cuộc sống của chúng ta. Xin đừng coi nó như một chỉ nam mô phạm, chỉ như một món quà chay, thêm chút ít nước ấm của của một tâm hồn biết đón nhận, sẽ dễ nuốt trôi.
Hy vọng! Lm. Peter Trần thế Tuyên
Muốn nghe bài giảng Giáo Lý Phúc Âm Chúa Nhật, xin vào Website: liengiaositusi.com - Phần Giáo Lý
Ngày 13.2.2013 Thứ Tư Lễ Tro Chung quanh Tết Việt Nam
Lời Chúa:
Bài đọc I: Tiên Tri Giô-en 2:12-18 khuyên dân chúng hãy thật lòng sám hối quay về với Chúa bằng việc ăn chay, than khóc cho tội lỗi mình.
Bài đọc II: Thư Thứ Hai gửi Côrintô 5:20-6:2 Chúa Kitô gánh lấy tội lỗi và sự bất chính nơi chúng ta để chúng ta được nên công chính. Phúc Âm: Matthêu 6:1-6, 16-18 trình bày ba yếu tố để sống mùa chay: Bố thí, cầu nguyện và ăn chay. Hãy làm tất cả những chuyện bác ái và đạo đức với lòng thành, âm thầm và kín đáo. Suy tư: Đời sống linh mục.
Tết thường là những ngày các Cha được biếu quà. Có những nhà xứ bên Việt Nam chất ngập những đường, đậu, gạo thơm, trà ngon, bánh mứt, nước ngọt, bia rượu. . . . Giáo dân có bổn phận mừng Cha và biếu quà trong những dịp Giáng Sinh, bổn mạng, kỷ niệm chịu chức linh mục. Những giáo xứ có hai hay ba cha! Chuyện mừng các Cha và kiếm quà biếu Cha trở thành sự lo nghĩ không nhỏ cho giáo dân.
Những lễ nghĩa nầy không xấu nhưng gây hiểu lầm không ít về vai trò và chức vụ linh mục. Linh mục là người “được và nhận”: nhận chức thánh, được sự kính trọng, nhận quà cáp, được mâm cao cỗ đầy, nhận bỗng lễ, được ưu đãi thương yêu và vâng lời, nhận những lời chào mọp quá đáng “dạ lạy cha ạ!”. . . Nhiều chú bé đã bị cho vào chủng viện để hy vọng sau nầy làm linh mục, sống cuộc đời “được và nhận” nầy.
Không! Linh mục được chọn gọi để ban phát và cho đi: cho đi cuộc đời mình qua kinh nguyện sáng chiều, qua thánh lễ dâng mỗi ngày, qua đời sống độc thân từ bỏ, qua tinh thần khiêm nhường phục vụ. Thánh lễ là hy tế, một lễ hy sinh. Không có hy sinh nào mang nghĩa “được và nhận” cả.
Bác ái là yêu thương vô bờ bến. Xin đừng tiết kiệm hay hà tiện trong chuyện ban phát và cho đi. Linh mục, tu sĩ phải bác ái và làm chuyện bác ái nhiều hơn người khác. Xin đừng tự miễn trừ cho mình chuyện bố thí, bỏ tiền rỗ nhà thờ hay giúp đỡ người nghèo khổ bằng tiền bạc. Trẻ con thường chỉ biết thu gom và giành phần cho mình. Cho đi và ban phát làm chúng ta trưởng thành, thành người vị kỹ biết cho đi.
Linh mục làm việc có lương, tức có lợi tức như người khác. Giáo dân phải bỏ tiền rỗ nhà thờ, tức phải đóng góp phần lợi tức của mình vào việc xây dựng nhà Chúa. Đóng góp hay bỏ tiền rỗ để xây dựng nhà Chúa không có miễn trừ cho linh mục. Xin hãy nêu gương đóng góp ấy để dễ khuyên giáo dân mình: Rộng rãi đóng góp cho nhà thờ.
Ngày 14.2.2013 Thứ Năm sau Thứ Tư Lễ Tro
Lời Chúa: Bài đọc I: Sách Nhị Luật 30:15-20 Môsê hiệu triệu dân chúng: muốn sống phải tôn thờ Chúa và giữ giới răn Ngài truyền. Phúc Âm: Luca 9:22-25 Chúa Giêsu phải chịu đau khổ, bị khước từ, bị giết chết và được sống lại. Người theo Chúa phải chấp nhận đường thánh giá. Suy tư: Nên “đi” đường thánh giá chứ hơn là “ngắm” đường thánh giá.
Đầu năm 1991 khi còn ở trại tỵ nạn Pulau Bidong, Mã Lai, chúng tôi vận động bà con công giáo, thanh niên, thiếu nhi khuân 5000 bao cát từ chân đồi lên đỉnh đồi tôn giáo để làm một núi sọ và dựng tượng Chúa chuộc tội cao ngất ngưỡng hướng ra Biển Đông. Ông Trùm ở giáo xứ tỵ nạn, ganh tỵ với công trình nầy, mách nước cho đội giữ an ninh Mã Lai “không được phép dựng tượng đài chuộc tội của Kitô giáo trên một đất nước Hồi Giáo.”
Đội an ninh Mã Lai sực tĩnh, Cảnh sát Mã Lai bắt chúng tôi triệt hạ ngay tượng đài chuộc tội. Chúng tôi hạ tượng Chúa xuống trong nước mắt và tức giận. Tôi tìm Ông Trùm, chỉ thẳng mặt mắng “Tôi cầu Chúa cho Ông chết! Thằng nào làm Chúa bị hạ xuống, thằng đó không sống lâu!”
Tôi không nghĩ Chúa nghe những lời chúc dữ của tôi dành cho Ông Trùm. Nhưng ông ta chết thật! Ông ta bị ngã xe đạp đập đầu xuống đường gây chấn thương sọ não chết chỉ vừa hai tháng sau ngày định cư ở nước thứ ba. Hối hận dâng tràn, tôi dâng lễ cầu cho Ông, xin lỗi Chúa và xin lỗi Ông về lời cầu bất nhân mà tôi đã buông ra trong lúc nóng giận.
Thân phận của Chúa là phải bị hạ nhục, vác thánh giá và chết. Chúa cứu sống người khi Chúa chết. Chúa sống lại từ nấm mộ chứ không phải từ đỉnh cao của đồi tôn giáo. Tôi tự hào vì giương được Chúa lên cao cho mọi người thấy lòng tin của mình. Tôi hùng hỗ hoán chuyển thân phận thấp hèn mà Chúa chấp nhận (Phil.2:6-11) rồi lại còn cầu xin Chúa hạ người khác cho danh Chúa được sáng và cho mình thoả cơn giận.
Đường thánh giá không phải chỉ để “ngắm” nhưng để “đi”. Thánh Giá không phải để giương cao trên tháp nhà thờ hay trên đồi cao nhằm phô trương đạo giáo. Thánh Giá không để trang trí văn phòng, lớp học làm tăng màu sắc tôn giáo, nhưng để tôi vác lấy và bước theo Chúa. Đó là con đường Chúa đã đi qua và con đường đời tôi đang bước theo Chúa.
Ngày 15.2.2013Thứ Sáu sau Thứ Tư Lễ Tro
Lời Chúa: Bài đọc I: Tiên Tri Isaia 58:1-9 Cách thức chay tịnh thiết thực là sống công bình chính trực và bác ái. Phúc Âm: Matthêu 9:14-15 Biệt Phái vấn nạn về việc các tông đồ Chúa không ăn chay như họ. Khách dự tiệc cưới không than khóc và ăn chay bao giờ, nhưng họ sẽ làm khi thời điểm đến, sau khi cô dâu đã ra đi. Áp dụng luật cần đúng người và đúng lúc. Suy tư: Trong Giáo Hội, luật tối hậu là phần rỗi các linh hồn – Salus animarum, in ecclesia suprema lex esse debet.
Biệt Phái, nguyên ngữ Do Thái và Aram có nghĩa distinguishers hay expositors of the law, những bậc đạt mức siêu vượt trong việc tuân giữ và bảo vệ Luật Môsê. Chỉ là một nhóm nhỏ chừng 6000 người nhưng hoàn toàn thù nghịch với Chúa Giêsu và tự cho mình công chính do việc giữ luật cách chi li.
Sau một ngày giải tội Mùa Vọng giúp một Cha xứ người Canada, Ngài mời tôi đi ăn tối ở nhà hàng. Thức ăn vừa dọn ra, Ngài nói “sorry, go ahead!” và Ngài mở sách nguyện làm dấu và đọc kinh chiều một mình. Tôi ăn trong thinh lặng không dám khua muỗng nĩa làm Ngài chia trí.
Sau 15 phút Ngài gấp sách nguyện làm dấu và bắt đầu ăn cơm tối. Ngài hỏi tôi có đọc kinh chiều chưa? Không, tôi không đọc hôm nay! Tại sao? Ngài vừa hỏi vừa mỉa mai “làm chưởng ấn, không phải giữ luật đọc kinh nhật tụng à!” Tôi no ngang, trả lời sẵng giọng: Giáo Luật buộc linh mục đọc kinh thần vụ, nhưng cũng miễn trừ khi đi đường, làm nhiều lễ hay như hôm nay phải giải tội suốt ngày. Ngài vênh mặt trắng bệch, trố đôi mắt xanh khó ưa, đầu lúc lắc không nói thêm nhưng bộc lộ rõ nghi ngờ về chuyện áp dụng luật của tôi. Bữa cơm kéo dài trong tẻ nhạt.
Chúa nói: “Luật ngày Sabbath được lập ra là vì con người”(Matcô 2:28) Bộ Giáo Luật mới ban hành ngày 25.1.1983 gồm 1752 điều và 7 quyển cũng vì con người. Có nhiều luật miễn trừ, chăm chước mà chúng ta cần biết để dùng và để đừng biến mình thành cảnh sát, dòm ngó hay nhân danh lề luật kết án người khác.
Con yêu và bảo vệ luật Chúa. Luật Chúa là “yêu thương và tha thứ cho anh chị em con, đặc biệt những người không thể giữ trọn lề luật Chúa.” “Trong chăn mới bếi có rận!” Người Việt nói thế! Anh chị em sống trong bậc gia đình có trách nhiệm làm vợ chồng, làm Cha Mẹ… suốt ngày 24/24 và suốt đời. Muốn đi lễ đúng giờ như Cha dặn nhiều lần, nhưng vừa ra xe thì thằng út chột bụng đòi đi cầu.. Trễ lễ và thế là Cha chửi.
Ngày 16.2.2013 Thứ Bảy sau Thứ Tư Lễ Tro
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên tri Isaia 58:9-14 Tuân giữ lề luật Chúa và ngày thánh Chúa truyền là cách thăng hoa cuộc sống và đạt ơn cứu độ. Phúc Âm: Luca 5:27-32 Chúa gọi Lêvi. Lêvi làm tiệc khoản đãi Chúa và bạn bè thu thuế. Chúa bị chỉ trích là gần gũi với phường bất chính nhưng Chúa minh định sứ vụ của mình như một thầy thuốc đến chữa người có bệnh, như một cứu Chúa đến kêu gọi người có tội sám hối. Suy tư: Bệnh nhân mới cần thầy thuốc – Người tội lỗi, bê bồi và rối rắm rất cần linh mục.
Có lần tôi dựng tuồng thương khó và nhờ một anh không công giáo, có ba vợ thủ vai Chúa Giêsu. Anh diễn thật xuất sắc và rất đạt nói theo từ ngữ sau 1975. Giáo dân chỉ trích thậm tệ “ Loạn hết chỗ nói, chả còn luật lệ gì cả, cho tên không công giáo, có ba vợ làm Chúa Giêsu!” Anh chàng cũng bị xỉ vả tơi bời, tôi thất điên bát đảo với Giám Mục về việc làm vô đạo nầy.
Tôi thấy mình rất ngoan đạo, hiểu rõ và thể hiện được lòng thương xót của Chúa khi làm chuyện hơi khó coi nầy. Người có ba vợ đóng vai Chúa Giêsu khác với Chúa Giêsu có ba vợ. Tuồng kịch là chuyện giả tạo, và cái “đạt” của tuồng kịch là cố gắng làm cho khán thính giả tưởng thật. Khi thưởng thức tuồng thương khó, người ta tưởng anh diễn viên là Chúa Giêsu và chính anh diễn viên có ba vợ cũng tưởng mình là Chúa Giêsu thật. Thành công!
Cuộc đời Chúa Giêsu với tình thương tha thứ và khổ hình thập giá đã thấm trong anh. Anh đọc Kinh Thánh, nghe tôi giải thích về tập tục Do Thái cũng như cách hành hình tử tội của La Mã. Anh giả bộ cách ăn mặc, đi đứng, ăn nói của Chúa Giêsu trong thời gian tập dượt và diễn xuất. Anh có đức tin, xin được dự lễ nhưng chưa rửa tội được vì chuyện đa thê. Tôi vẫn tiếp tục tới lui với anh, ăn cơm, nói chuyện vui vẻ với cả ba bà vợ của anh. Bản thân anh và gia đình thật đáng thương. Anh đúng là con bệnh cần thầy thuốc và người tội lỗi cần sám hối.
Làm linh mục, tu sĩ thường chúng ta dễ lui tới những gia đình ngoan đạo, lễ phép, ân cần thù tiếp và thỉnh thoảng xin lễ ‘béo’. Chúng ta cần họ, không chắc họ cần chúng ta! Nhiều người rối đạo, bỏ lễ, sống common-law, bê bối đang cần chúng ta, thầy thuốc tinh thần. Hãy đến cho họ một liều thuốc của lòng thương xót Chúa.
”Ngợi ca lòng thương xót. Chúa đã ban tặng con. Hỡi trái tim từ nhân. Con tín thác nơi Ngài”.
Lòng thương xót Chúa! Nhân loại rất cần – Tôi và mọi người đều cần lòng thương xót Chúa và lòng thương xót nhau!
Muốn nghe bài giảng Giáo Lý Phúc Âm Chúa Nhật, xin vào Website: liengiaositusi.com - Phần Giáo Lý
Giáo Lý Phúc Âm - CHÚA NHẬT I MÙA CHAY NĂM C - ngày 17.2.2013
Sách Đệ II Luật 26, 4-10; Thư Thánh Phaolô gửi Rôma 10. 8-13
và Phúc Âm Luca 4, 1-13
I. Giáo Huấn P.Â.:
Có ma quỉ, có tà thần, có tranh chấp giữa Chúa Giêsu và ma quỉ.
Có tranh chấp giữa Giáo Hội và ma quỉ .
Có tranh chấp giữa cá nhân và ma quỉ.
Ma quỉ cám dỗ không trừ ai. Cám đỗ đến với mọi người.
Cám dỗ và tranh chấp xảy ra mọi chỗ.
Cuộc sống là một cuộc chiến liên lỉ, thắng hay bại, tùy theo những gì mình trang bị cho đời sống: đầy Chúa Thánh Thần và phải ăn chay cầu nguyện liên lỉ.
II. Vấn nạn P.Â.
Phúc Âm Nhất Lãm tường thuật việc Chúa ăn chay, cầu nguyện và bị ma quỉ cám dỗ có phần khác nhau. Luca và Matcô tường thuật: Chúa Giêsu được Thánh Thần dẫn vào trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu quỉ cám dỗ…có vẻ như Chúa bị cám dỗ liên lỉ suốt bốn mươi ngày. Còn Phúc Âm Thánh Matthêô bảo: Sau khi ăn chay cầu nguyện bốn mươi đêm ngày.. Ngài thấy đói và ma quỉ xuất hiện cám dỗ…(Matt.4,1-11) Cám dỗ đến sau khi ăn chay cầu nguyện? Tường thuật nào đúng?
Trong ba Thánh Sử của Phúc Âm nhất lãm, chỉ có Matthêô là tông đồ Chúa chọn. Trong thực tế, khi được dẫn vào sa mạc ăn chay và cầu nguyện, Chúa chưa chọn tông đồ hay môn đệ nào cả. Như vậy ba thánh sử tường thuật lại chuyện Chúa ăn chay và cầu nguyện trong hoang địa theo lời kể của Chúa hay của ai đó.
Như có lần đã nói: Phúc Âm không là phóng sự chiến trường hay một thứ tường thuật tại chỗ mắt thấy tai nghe. Nhưng là Giáo Lý của các Tông đồ: Nhiều chục năm sau, sau khi Chúa về trời các Tông Đồ đi truyền đạo và viết lại hay nhờ người viết lại để dạy giáo lý và để trình bày quan điểm thần học của mình. Nên chúng ta không nên trả lời là trường thuật nào đúng? Không có tường thuật nào chính xác trăm phần trăm với sự kiện xảy ra cả. Nhưng chúng ta phải trả lời là qua tường thuật, thánh sử muốn nói gì?
Chúa bị cám dỗ suốt bốn mươi ngày theo tường thuật của Matcô và Luca để nói rằng: Cám dỗ không bao giờ mệt mỏi hay cho chúng ta “nghỉ xả hơi” hay có thời gian “hưu chiến” trong cuộc đời chúng ta. Quan điểm thần học nầy xem chừng rất thật trong cuộc sống Kitô hữu. Thí dụ: Lúc nào? Tuổi nào? và ở lên tới địa vị nào thì chúng ta sẽ không còn bị cám dỗ về ham muốn nhục dục? Cám dỗ bất chấp thời điểm, tuổi tác hay địa vị. Còn địa vị nào cao cho bằng Tổng Thống nước Mỹ như Tổng Thống Bill Clinton, nhưng ông vẫn bị cám dỗ và tằng tịu với Monica ngay trong phủ tổng thống? Nên chúng ta thấy thánh Luca kết thúc bài phúc âm hôm nay bằng câu “Sau hi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi để chờ dịp khác!” Ma quỉ chưa chịu thua! Đây là cuộc chiến dai dẵng không ngưng nghỉ.
Còn tường thuật Thánh Matthêô cho thấy “Ma quỉ xuất hiện cám dỗ Chúa sau khi đã ăn chay cầu nguyện bốn mươi ngày” Thánh Matthêô có ý nói: Chúa là Con Thiên Chúa. Chúa đã ăn chay cầu nguyện bốn mươi ngày… vậy mà vẫn bị cám dỗ: Cám dỗ không trừ ai và cũng không ngán một khí giới nào cả. Đừng nghĩ mình chức cao quyền trọng, đi đâu cũng đọc kinh lần hột mà ma quỉ không dám cám dỗ. Lầm to! Đức Cha Raymond Lahey, giám mục địa phận Antigonish của Canada tháng 10.2009 đả phải từ nhiệm vì lưu trữ hình trẻ em trần truồng. Ngài sinh năm 1940, tức đã 69 tuổi, và đã lên làm Giám Mục, hàng giáo sĩ cao cấp nhất trong Giáo Hội Công Giáo từ năm 1986. Muốn lên làm Giám Mục, điều kiện không chỉ là linh mục mà còn là linh mục đạo đức, vững chắc trong đức tin, tinh thông khoa học thánh và đáng tín nhiệm. Vậy mà ….vẫn tiêu!
Những cám dỗ: biến đá thành bánh hay nhảy từ trên cao xuống không gảy chân… đâu có gì xấu mà còn mang ích lợi thực tế, sao Chúa không làm?
Đây là những điều xấu:
Bản chất sự việc xấu: Biến đá thành bánh hay nhảy từ trên cao xuống là những thách thức để thi thố quyền bính. Chúa còn có thể biến đá thành con cái Abraham huống chi thành bánh! Người tin Chúa còn có thể truyền lệnh cho cây cối dời xuống biển mà mọc, huống chi Chúa. Nhưng quyền bính Chúa ban không để thi thố tranh tài, nhưng để cho thấy vinh quang Chúa hay loan báo cho mọi người biết “thời giờ đã diểm và Nước Thiên Chúa đã gần” (Matt.4,17; Luca 10,9) Nên khi Chúa làm phép lạ chữa bệnh tật, Chúa không có ý thi thố quyền bính, nhưng để chữa bệnh, để đẩy lui sự thống trị của tà thần trên bệnh nhân và để loan báo Tin Mừng Cứu Độ đã đến và Chúa là Đấng Cứu Thế đang ở giữa con người.
Có người nhìn ra ảnh hưởng của Thánh Phaolô trên Luca trong tường thuật từ chối biến đá thành bánh nầy. Phaolô nhìn thấy Chúa Giêsu như một Adam mới (Thư Gửi Roma chương 5) Bà Evà trong vườn địa đàng nghe lời dụ dỗ của con rắn ăn trái cấm và còn bẻ trái cấm mang cho chồng mình ăn. Nên tội đã nhập vào thế gian. Chúa Kitô trong Tân Ước, là Adam mới, không nghe lời ma quỉ, nên ơn cứu độ đã đến trần gian. Adam cũ nghe ma quỉ, bất tuân lệnh Chúa mang tội và cái chết vào trần gian. Adam mới không nghe ma quỉ, làm theo ý Chúa, nên ơn cứu độ và sự sống đến với mọi người.
Nghe theo ma quỉ là xấu: Ma quỉ theo nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa kẻ vu khống (slanderer) hay người tố cáo (accuser). Ma quỉ là tà thần, là kẻ gian dối, lọc lừa để hại người. Ma quỉ luôn xúi giục con người làm điều xấu, ma quỉ giết chết chứ không có cứu độ. Làm theo ma quỉ là thực hiện mưu đồ xấu của mà quỉ. Theo ma quỉ là thành kẻ thù của Chúa. Những định nghĩa về ma quỉ và những diễn tả về hành vi ác xấu của ma quỉ được tìm thấy nhiều trong Sách Khải Huyền của Thánh Gioan Tông Đồ 12,9 hay 20,2 về con rồng đỏ rình nuốt trững con của người đàn bà. Cũng có trong thư của Thánh Phaolô gửi Êphêsô 2,2 hay Thư Thứ II của Thánh Phaolô gửi Corintô 4,4.
Giả như Chúa đã nghe theo ma quỉ thi thố quyền phép bằng cách biến đá thành bánh ăn và bằng cách nhảy từ trên cao xuống mà không hề bị vấp chân vào đá thì kết quả sẽ ra sao? Chắc chắn Chúa sẽ quì xuống thờ lạy ma quỉ để được những của cải vật chất phù hoa trên trần thế. Đây là thất bại ê chề vì đảo lộn trật tự căn bản: Chúa thờ lạy ma quỉ. Ma Quỉ lên làm Chúa, và Chúa thành nô lệ cho ma quỉ. Hai lần đầu, biến đá thành bánh hay nhảy từ trên cao không có gì xúc phạm đến bản tính Thiên Chúa, nhưng nó là đường dẫn đến thất bại sau cùng: đánh mất bản thể Thiên Chúa.
Một thanh niên trẻ tuổi nghe bạn bè xấu hút xì ke, một lần, hai lần rồi ba lần, rồi sau cùng nghiện ngập. Nghiện ngập biến con người thành con vật, có thể làm bất cứ chuyện gì để được hút: ăn trộm, ăn cắp và có khi thành ăn cướp hay giết người. Người trong tình trạng nầy gọi là mất nhân tính. Không còn tính người. Con người được sinh ra có lý trí phải làm chủ bản năng. Đàng nầy biến thành con vật, đi làm nô lệ cho bản năng. Nên tu đức bảo: Những tội nhẹ đưa dần đến tội trọng là vậy.
Phúc Âm diễn tả “quỉ xuất hiện cám dỗ, hay quỉ nói với Người hay quỉ trích dẫn Kinh Thánh… Nếu Ông là Con Thiên Chúa…”, xem chừng quỉ hiện hình và mặt đối mặt với Chúa trong sa mạc.
Chắc một điều là quỉ không hiện hình như chúng ta có trong trí về quỉ: Một tên thân thể trần trụi, đen thủi đen thui như than, có hai sừng nhọn hoắc, rồi còn thêm cái đuôi phe phẩy sau đít, mặt mày nham nhở xấu xí… Quỉ là thần, làm sao có hình để hiện. Hơn nữa nếu quỉ hiện hình ghê tỡm như vậy thì làm sao cám dỗ được ai? Như vậy quỉ cám dỗ Chúa cách nào?
Satan khuấy động bản năng tự nhiên nơi con người Chúa Giêsu.
Đói sinh thèm ăn hay cần ăn.
Cần ăn hay thèm ăn sinh sáng kiến kiếm ăn.
Phương thế kiếm ăn được dự định thực hiện bằng chuyện dùng thần quyền: Biến đá thành bánh.
Cám dỗ thứ hai:
Chúa biết mình có khả năng “gieo mình xuống đất từ nơi cao mà không vấp chân vào đá” Satan khuấy động việc thi thố khả năng “làm xiếc” của Chúa Giêsu.
Chúa bị khuấy động muốn thi thố khả năng, làm cho Satan lé mắt, nễ sợ một phen.
Ai trong chúng ta cũng đã từng bị cám dỗ và cũng đã từng sa chước cám dỗ. Chúng ta có thể nghiệm lại xem mình đã bị cám dỗ như thế nào và đã sa chước cám dỗ ra sao? Chúng ta thường bị cám dỗ để nói xấu người khác. Người thứ ba đến gợi lên cho chúng ta vài khuyến điểm của đối tượng và thêu dệt một viễn ảnh tốt “giúp xây dựng nhau trong tình bạn!”. Hay quá! Thực tế, chúng ta chưa có ý và cũng chưa biết xây dựng trong tình bạn là như thế nào. Cái chúng ta biết là khuyết điểm người khác. Rồi chúng ta chia sẻ những khuyết điểm nầy với người chung quanh để gọi là giúp xây dựng nhau cho tốt hơn. Sau cùng, chuyện xây dựng không thấy, nhưng ai cũng biết người kia có những khuyết điểm do chúng ta cung cấp.
Chắc chắn quỉ không có hiện hình. Nhưng quỉ dùng thủ đoạn để khơi dậy bản năng hướng chìu về tội của chúng ta. Chúng ta gọi là bị cám dỗ và sa ngã.
Tôi cũng không chối bỏ những trường hợp đặc biệt như Thánh Gioan Maria Vianney, Cha sở họ Ars ở Pháp. Quỉ đã ra tay mạnh để đuổi Ngài ra khỏi giáo xứ: như ném Ngài xuống đất ban đêm và đốt giường ngủ của Ngài. Đó là những tấn công từ bên ngoài. Rất ít thấy! Đại đa số là khuấy động dục vọng, lòng ham muốn thấp hèn tự tại nơi chúng ta. Vì thế có nhiều người bị mắng “con quỉ!” hay “thằng quỉ!” hay “đồ quỉ” để cho thấy, hành động của những người kể trên do quỉ hướng dẫn. Chúa cũng có lần mắng Phêrô “Satan hãy lui ra đàng sau Ta!” (Matt.16,23) Vì ý kiến của Phêrô ngược lại ý Chúa.
III. Thực hành P.Â.:
Đừng biến đá thành bánh?
Sau bốn mươi ngày ăn chay cầu nguyện, Chúa thấy đói và cần ăn. Phải chi có gì ăn ngay cho đỡ đói thì tốt quá! Có thể Chúa nghĩ vậy. Có gì dễ cho bằng chỉ nói một câu làm cho đá thành bánh. Chuyện nhỏ và dễ ợt! Nhưng Chúa không làm chuyện nhỏ và dễ ợt nầy. Vì đó là chuyện ma quỉ.
Người ta nói chung quanh Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội có vài ngàn gái mãi dâm. Lý do, họ muốn có tiền cho nhanh để chạy theo kịp mốt ăn chơi của thời văn minh. Họ muốn có gì giúp gia đình ngay để cho bố mẹ đỡ vất vả. Nên họ đã biến đá thành bánh. Chỉ cần một suất đi khách ba mươi phút là kiếm được khối tiền bằng người lao động hai ngày.
Ai trong chúng ta cũng cần những nhu cầu vật chất cần thiết như nhà, xe và những nhu cầu lương thực hằng ngày. Ai trong chúng ta cũng cần vài tuần lễ nghỉ hè chung với gia đình hàng năm. Thêm vào đó cũng cần có một số tiền phụ trội để giúp gia đình hay người nghéo đói hay xây dựng một căn nhà cho người bất hạnh ở Việt Nam. Toàn chuyện chính đáng, tốt đẹp và nên làm. Nhưng làm sao để có tiền thỏa đáp cho những nhu cầu chính đáng nầy?
Có người đã chọn giải pháp cấp thời theo kiểu biến đá thành bánh nầy. Họ đi trồng cỏ, họ đi buôn lậu, họ chứa dựa và tiêu thụ những hàng hóa ăn cắp. Đá đã thành bánh! Tiền dư bạc thừa, giàu nứt khố đổ vách… và làm chuyện bác ái giúp Việt Nam. Đó là chuyện của ma quỉ! Những người trên đã bị cám dỗ và đã sa chước cám dỗ! Ma quỉ vẽ ra những công phúc nào là bác ái, nào là nhu cầu chính đáng và chúng ta đã thua, đã biến đá thành bánh.
Cũng có những linh mục đã nhận những chiếc bánh từ việc biến đá thành bánh nầy. Người trồng cỏ, người buôn lậu, người khai thuế gian, người khai man lãnh trợ cấp xã hội… đến xin Cha lễ tạ ơn Chúa với số tiền to lớn, để Chúa phù hộ cho ăn nên làm ra. Linh mục nhận chiếc bánh được biến từ hòn đá bất chính một cách tỉnh bơ, không thắc mắc. Xin lễ là chuyện thánh thiện, nhưng dùng tiền bất chính mà xin lễ là chuyện ma quỉ. Nên nhớ, quỉ là tên tráo trở, hay đánh lận con đen, hay dùng sự cao đẹp thánh thiện để biến chúng ta thành nô lệ cho bản năng xấu xa. Chúa không cần của lễ bất chính. Linh mục cũng không được phép im lặng để ăn những chiếc bánh từ những hòn đá bất chính nầy. Linh mục hơn ai hết được kêu gọi nên công chính.
Ngày 18.2.2013 Thứ Hai sau Chúa Nhật Thứ I Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Sách Lêvi 19:1-2, 11-18 Chúa là Đấng Thánh. Dân Chúa là Dân Thánh. Dân thánh giữ 10 điều răn do Chúa là Đấng Thánh truyền. Phúc Âm: Matthêu 25:31-46 Ngày Chúa đến trong vinh quang, ngày chung thẩm. Tiêu chuẩn thưởng và phạt dựa vào những việc tốt hay xấu đã làm cho người khác. Suy tư
Tôi lo ngay ngáy cái chuyện phải đứng bên dê ngày chung thẩm. Nên tôi cứ làm chuyện bác ái một cách khá máy móc: Bất cứ ai đến gỏ cữa nhà xứ và xin giúp là tôi cho 10 đồng. Có ngày tôi trúng mánh làm được đến 4, 5 vụ. 10 đồng thật không nhiều nhưng cũng mất hết một bỗng lễ của một linh mục ở Canada. Khổ nỗi nhiều tháng chỉ được chừng 5 bỗng lễ. Nhưng cũng có cái lạ là tôi luôn có tiền để cho khi người ta đến xin.
Từ đó tôi nghiệm thấy rằng: Chúa trong thân phận người ăn xin cùng khốn đến để chỉ xin tôi một phần nhỏ những tiền bạc hay của cải vật chất mà Chúa ban cho tôi. Nên người xin tôi cũng là người cho tôi. Từ đó tôi là người vừa ban vừa nhận. Khi giúp đỡ người khác tôi chỉ làm vai trò của người quản lý: phân phát của ăn thức uống cho những người làm việc cho Ông chủ . Nhiều linh mục, tu sĩ sống nghèo khổ, đạm bạc. Nhiều người chết vì bị bắt bớ, tù đày, hành hạ. Nhiều người chết vì những tai nạn xe cộ, thuyền bè hay bệnh hoạn. Nhưng chưa bao giờ nghe một linh mục hay tu sĩ chết vì nghèo đói cả. Sau năm 1975, chúng tôi phải thể hiện việc “lao động là vinh quang”, làm việc cật lực để nuôi sống mình, và phục vụ giáo xứ nhưng chúng tôi cũng nhận những trợ giúp âm thầm: con cá, con gà, thùng gạo, nước mắm….từ giáo dân. Cả nước ăn bo bo, chúng tôi vẫn cơm trắng cá tươi hàng ngày. 13 năm tù của Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn văn Thuận là 13 năm đoạ đày, đau khổ chứ không có “đói khổ”.
Chúng ta nhận được nhiều lắm thưa quý Cha, quý tu sĩ nam nữ. Chúa không để chúng ta đói khổ bao giờ. Giáo dân Việt Nam thương và quý chúng ta. Hãy mạnh dạn, ban phát và cho đi qua những việc làm bác ái cụ thể: giúp kẻ đói ăn, giúp kẻ khát uống. Chúng ta không mất mát gì cả. Hẹn gặp nhau trong ngày chung thẩm và đứng về một phía, phía chiên chứ không phải phía dê! See you up there!
Xin anh chị em giáo dân đừng quan tâm đến lời than nghèo hay khônhg có tiền của linh mục. Linh mục phải sống nghèo và phải không có tiền, chứ sao lại than! Nói cách khác: Xin giúp linh mục ra khỏi chuyện giàu nghèo và chuyện tiền bạc. Xin đừng mời hay giúp vốn cho linh mục có phần hùn trong một ngành nghề thương mại nào.
Ngày 19.2.2013 Thứ Ba sau Chúa Nhật I Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tria Isaia 55:10-11 Trời mưa tắm mát vạn vật. Lời Chúa truyền đạt cần sinh hiệu quả ích lợi cho muôn người. Phúc Âm: Matthêu 6:7-15 Chúa dạy các tông đồ cầu nguyện và ngày dạy học Kinh Lạy Cha: Xin cho danh Cha cả sáng. Xin cho lương thực hằng ngày và xin cho được biết tha thứ và nhận được lòng thứ tha. Suy tư Nhiều người Nhật, không chấp nhận đọc kinh Lạy Cha vì họ không sao tha thứ chuyện hai quả bom nguyên tử Mỹ bỏ xuống Hiroshima và Nagazaki thời tổng thống Truman 1945. Thân nhân của những người bị khủng bố chặt đầu ở Trung Đông không sao tha thứ nỗi cho những người có hành động dã man nầy.
Ba mươi năm chiến tranh Việt Nam, ba triệu người nằm xuống, ba triệu gia đình mất mát, tang thương tràn lan. Hàng triệu người ra khơi vượt biển, hàng trăm ngàn vùi thây nơi biển cả, không biết bao nhiêu cô gái Việt Nam bị hải tặc hảm hiếp và bắt đi biệt tích. Bất công lớn, đau thương nhiều, làm sao tha thứ?
Nếu không tha thứ thì hãy đi trả thù. Nhưng trả thù ai bây giờ? Ông Truman chết rồi, những người trút bom vô tội, vì làm theo lệnh trên. Những khủng bố chắt đầu người khác cũng chỉ là công cụ của một tổ chức vô hình. Người Việt Nam chỉ là nạn nhân của một thứ chủ nghĩa đầu độc dân nhược tiểu. Người ta khích bác, mình cầm súng và mình giết nhau.
Tôi ghét coi phim kiếm hiệp Tàu nhiều tập. Phim tuồng chỉ là tưởng tượng, nhưng ít ra cũng cho chúng ta một kết cục tích cực chứ có đâu toàn là thù hận ân oán thanh toán từ thời nầy sang thời khác. Tiêu cực và vô ích.
Tha thứ là tích cực và có ích cho đời sống mình. Không tha thứ, không an bình, không ngủ ngon và cũng không thăng tiến. Chúa đã tha thứ và Chúa đã chiến thắng! Cha Nguyễn hữu Lễ trong “Tôi muốn sống” đã tha thứ và nhận được sự thương yêu và cảm thông của đọc giả. Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn văn Thuận đã tha thứ cho người bỏ tù mình 13 năm và lòng vị tha của Ngài đã hoán cải người khác và Chúa đã thưởng cho Ngài.
Lời đầu tiên trong bảy lời sau cùng của Chúa trên thập giá trước khi chết là “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm không biết!”
Tha thứ để được thứ tha. Tha thứ để giống Chúa giàu lòng tha thứ! Tha thứ để thành anh hùng! Tha thứ để có tâm hồn bình an! Bình an là chính Chúa. Tha thứ để có Chúa trong tâm hồn.
Ngày 20.2.2013 Thứ Tư Sau Chúa Nhật I Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Giôna 3:1-10 Từ vua tới dân thành Ninivê đáp lời kêu gọi sám hối của Giôna bằng việc mặc vải bao bố và ngồi trên tro. Phúc Âm: Luca 11:29-32 Người Do Thái thời Chúa Giêsu không có lòng sám hối bằng thời Giôna. Chúa quở mắng họ là giòng giống ác xấu. Suy tư
Nhiều từ ngữ đạo trong tiếng Việt không được hiểu và không đi sâu được vào sinh hoạt của người Việt Nam, thí dụ: sám hối, ăn năn, Cha chính, Đức Ông, rỗi linh hồn . . và nhiều từ đại loại như vậy. Ngoài công giáo, không ai hiểu sám hối và ăn năn mang ý nghĩa gì?
Trong tiếng Anh, repentance có nghĩa là change of mind or change of heart or sorrow for sin. Nếu thế, sám hối trong Việt Ngữ xem chừng tiêu cực vì chỉ mới diễn đạt sorrow for sin chứ chưa có một change of mind or change of heart.
Dễ để có ý kiến, nhưng chính bản thân tôi cũng không tìm ra một từ nào khác khả thể thay thế cho từ sám hối hay ăn năn hay nhiều từ nhà đạo khác. Từ chỗ đó tôi phải thú nhận rằng: mình hay muốn làm cho người khác sám hối hay giúp người khác sám hối như sám hối Mùa Vọng, Sám Hối Mùa chay, nhưng mình lại quên sám hối. Đúng là tào lao!
Có nhiều lúc tôi cũng sợ là mình làm linh mục, mình rửa tội, dâng lễ, ban bí tích để mang ơn cứu rỗi cho người khác nhưng sau cùng mình lại không có mặt trên thiên đàng. Có thể lắm! Vì mình hay quên sám hối hay tưởng rằng mình không cần sám hối.
Linh Mục, tu sĩ chúng ta có xưng tội thường xuyên không? Đức Giáo Hoàng xưng tội hàng tuần. Nhiều giáo dân xưng tội hàng hai tuần hay hàng tháng. Có lẽ chúng ta nên xưng tội mỗi tháng một lần. Cái hay của bí tích giải tội không là chuyện tiêu cực ăn năn khóc lóc nhưng là chuyện tha thứ và change of mind or change of heart, là chuyện tích cực làm cho hối nhân thay đổi tốt hơn.
Nếu mỗi ngày con biết sám hối là mỗi ngày con trở nên tốt hơn! Cám ơn Chúa thương ban bí tích hoà giải! Bí tích hoà giải cho chúng ta cơ hội làm hoà với Chúa và với anh chị em mình. Hãy tin tưởng tuyệt đối vào ấn tín toà giải tội. Hai mươi thế kỷ qua, vô số linh mục phản bội lời hứa khi chịu chức linh mục, nhưng không ai phản bội lời hứa giữ bì mật ấn tín tòa giải tội. Phép lạ!
Ngày 21.2.2013 Thứ Năm sau Chúa Nhật I Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Esther 14:1,3-5,12-14 Bộc lộ lòng trông cậy tuyệt đối vào Chúa của Hoàng Hậu Esther, người Do Thái, sống ở xứ dân ngoại Ba tư (Persia).
Ghi chú: Esther trong Kinh Thánh theo bản Do Thái chỉ có 10 chương. Chương 14 được coi là phần phụ thêm trong bản Hy Lạp nằm chen trong bản dịch Do Thái giữa chương 4) Phúc Âm: Matthêu 7:7-12 Xin sẽ được, gỏ cửa sẽ mở, cầu nguyện sẽ được nhậm lời. Con người không tốt bằng Chúa mà còn cho con mình cái chúng xin. Suy tư
Đôi lần tôi nghi ngờ về sự chính xác của đoạn Phúc Âm nầy: Chắc gì Chúa đã nói như vậy? Tại sao nhiều lần đập cửa rầm rầm, nhiều lần cầu xin tha thiết mà Chúa vẫn im lặng? Nhưng không phải chỉ trong Nhất Lãm mà cả Gioan cũng chép lại đoạn Phúc Âm trên. Chắc chắn Chúa đã nói: “xin sẽ được, gỏ, cửa sẽ mở cho!”
Sau khi định cư, tôi biên thư xin tiền Ba tôi trả tiền tàu. Ba tôi trả một cây vàng và biên thư cho tôi:” Ba đã trả một phần, hai phần còn lại, con có thể đi làm để trả”. Tôi giận Ba tôi thật, cằn nhằn: có mà không trả giùm, bắt người ta đi làm! Không biên thư trả lời Ba, tôi tìm cách đi làm trả nợ trong chừng hai tháng. Có bao nhiêu đâu, một ngàn đô, cắt cỏ thuê hai tháng hè là có dư.
Khi về chôn Ba, nhìn di ảnh người quá cố, gương mặt cương nghị và quảng đại, tôi hiểu được tại sao Ba tôi có vàng mà không trả hết nợ cho tôi. Ba tôi biết tôi không cần xin mà có dư khả năng đi làm để trả nợ: tôi định cư, tôi có sức khoẻ, tôi có khả năng và có nhiều cơ hội kiếm tiền. Cờ trong tay không phất lo mất giờ chạy vạy kêu hàng xóm giúp mình đi mua cờ để phất. Vô lý!
Xin cho danh Cha cả sáng. Xin cho lương thực hàng ngày. Xin cho biết tha thứ như đã được tha thứ. Đó là những điều cần cầu xin và chắc chắn Chúa sẽ nhậm lời. Còn những việc khác thì đã cho lâu rồi: sức khoẻ, khả năng, trí thông minh, tính cần cù, lòng quảng đại… chỉ cần xử dụng những khả năng đã có thì sẽ tạo ra được những cái khác.
Có trường học, không chịu cắp sách đến trường mà chỉ đi nhà thờ cầu xin cho mình học giỏi. Chúa không thể cho mình học giỏi nếu mình không đi học.
Ngày 22.2.2013 Thứ Sáu sau Chúa Nhật I Mùa Chay
Lập tông toà Thánh Phêrô - Lễ kính
Lời Chúa Bài đọc I: Thư Thứ I Thánh Phêrô 5.1-4 Tông đồ Chúa và linh mục của Chúa phải tận tình chăm sóc đàn chiên Chúa giao. Chăm sóc không là dung quyền bính cai trị nhưng là làm gương sáng.
Phúc Âm: Matthêu 16.13-19 Simon Phêrô tuyên tín: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Chúa xây dựng Giáo Hội trên tảng đá Phêrô và trao trao quyền lãnh đạo, quyền cầm buộc và tháo gở cho Phêrô. Chúa giữ gìn Giáo Hội trường tồn dung ma quỉ có quậy hết cỡ. Suy tư
Nếu sống thời nay, Chúa phải trao cho Phêrô Remote control, bộ điều chỉnh từ xa, nói theo tiếng Bắc bộ. Chìa khoá đang bị đào thải dần. Remote control nào cũng có mã số. Trong bài Phúc Am Phêrô đã nắm được mã số qua lời tuyên tín “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa” Thế là quyền lãnh đạo, quyền cầm buộc được trao.
Có nhiều linh mục, tu sĩ chúng ta mang cả một xâu chìa khoá to và nặng, đi tới đâu gây tiếng ‘leng keng’ tới đó. Có nhiều người thích có nhiều chìa khoá, một thứ chứng tỏ quyền hành và trách nhiệm.
Có lần sau khi dự đám tang trong nhà thờ, chúng tôi phải ra xe đợi Cha xứ 15 phút. Ngài lần lượt đi khoá hàng chục cửa trong nhà thờ một cách cẩn thận trước khi ra nghĩa trang. Thấy Cha thật tội! nhưng chính cha làm cha cực thân vì xâu chìa khoá. Đâu phải có nhiều chìa khoá là nhiều quyền tháo gỡ, cầm buộc hay kiểm soát đâu. Nhiều người dư thiện chí, dư thời giờ và đáng tín nhiệm để giữ chìa khoá nhà thờ và các phòng ốc trong khuôn viên nhà thờ.
Có Cha phải thức khuya để đợi ca đoàn tập hát xong đi khoá cửa nhà thờ. Có Cha suýt chút nữa làm bà cụ đi lễ chết cóng ngay trước nhà thờ vì bà tới sớm 5 phút giờ cha mở cửa nhà thờ. Cha thích kiểm soát, thích người có trách nhiệm phải đến xin hỏi mượn Cha chìa khoá để làm việc chung.
Phêrô được trao quyền sau khi tuyên tín. Linh mục được trao quyền mục tử để đưa đoàn chiên tới Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Linh mục là mục tử, là vị chăm sóc đàn chiên chứ không là người giữ nhà thờ hay nhân viên an ninh bảo vệ giáo đường.
Kính Toà Thánh Phêrô tức chấp nhận quyền lãnh đạo Giáo Hội của Phêrô và của các Giáo Hoàng, Giám Mục, những người kế vị Thánh Phêrô và các tông đồ để lãnh đạo Giáo Hội. Điều nầy nói đến sự vâng phục quyền bính trong Giáo Hội. Vâng phục những vị lãnh đạo không vì họ tài giỏi có tài lãnh đạo, nhưng vì các Ngài được tuyển chọn làm mục tử để mang đàn chiên đến suối nước trong, đến đồng cỏ xanh và đến nơi nghỉ ngơi an bình.
Ngày 23.2.2013 Thứ Bảy sau Chúa Nhật I Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Đệ II Luật 26:16-19 Chúa thương yêu và bảo vệ dân Người nếu họ biết tôn trọng và tuân giữ luật Chúa. Phúc Âm: Matthêu 5:43-48 Yêu thương cả kẻ thù mình vì Trời mưa giáng phúc cho cả kẻ lành người dữ, cả kẻ tốt người xấu. Suy tư Khi còn bé tôi bị Mẹ đánh thức đi lễ mỗi ngày. Có lần tôi xin mẹ cho tôi được làm người ngoại giáo như nhiều bạn người Hoà Hảo chung quanh khu xóm để khỏi đi lễ. Tôi ăn đòn sưng mông đến độ ngồi không được! Thằng bé có ý bỏ đạo tỡn kinh!
15 năm làm thầy già giúp xứ ngán dài cổ chỉ xin sớm làm linh mục để tránh cảnh làm “nô bộc khiêm hạ”, chạy loong toong, làm tà lọt, bị sai vặt. Làm linh mục rồi mà sao còn nhiều luật lệ ràng buộc quá: độc thân, vâng lời, làm lễ, giải tội, cấm phòng, hội họp. . . . mệt! Thôi cũng cố chờ ngày hưu trí cho khoẻ!
Công Giáo có quá nhiều luật mà toàn luật khó giữ. Làm sao yêu thương và tha thứ và làm ơn cho kẻ thù được? Làm sao đưa nỗi thêm một má khác nếu sau khi đã bị tát một má nổ đom đóm rồi? Đưa mầy cái búa thì có!
Con người sinh ra theo luật, lớn lên trong luật và chết cũng theo luật. Sinh ra do Mẹ chứ không do Cha! Luật tự nhiên. Muốn lớn phải ăn, ngủ, chơi, giỡn nô đùa theo luật tự nhiên tăng trưởng. Chết cũng có luật, luật có sinh có tử, không ai sống mãi.
Yêu thương kẻ thù là Luật Chúa. Luật Chúa là luật tự nhiên. Tự nhiên không có nghĩa là đương nhiên chúng ta yêu kẻ thù, nhưng có yêu thương kẻ thù mới là đúng nghĩa yêu thương. Chúa cũng nói: Yêu thương người yêu thương mình thì nào có công nghiệp gì, ai mà chả làm được.
Viện dẫn lý do: Không yêu kẻ thù được. Không ai làm được, bảo đảm! Có thử làm chưa để biết được hay không được? Đức Hồng Y Fx. Nguyễn văn Thuận làm được. Thử làm đi, thử yêu thương và làm ơn cho kẻ thù đi. Nếu không được! Đọc “Đường Hy Vọng” của Đức HY. Thuận và xin Chúa giúp.
Yêu thương tha thứ là luật Chúa. Yêu thương tha thứ là anh hùng! Chúa là anh hùng! Chúng ta là con Chúa, chúng ta cũng phải sống anh hùng! Anh hùng là người làm được những chuyện phi thường. Việc phi thường bậc nhất là yêu thương kẻ ghét mình. Người Việt Nam hay tự hào là mang trong người giòng máu anh hùng tử đạo. Nhưng nhiều khi chúng ta cũng có quá nhiều máu tị hiềm ganh ghét và bôi bẩn nhau. Xin Chúa tiếp máu anh hùng cho chúng ta!
Muốn nghe bài giảng Giáo Lý Phúc Âm Chúa Nhật, xin vào Website: liengiaositusi.com - Phần Giáo Lý
Giáo Lý Phúc Âm - CHÚA NHẬT II MÙA CHAY NĂM C - ngày 24.2.2013
Sách Sáng Thế Ký 15,5-12,17-28; Thư Thánh Phaolô gửi Philipphê 3,17-4,1
và Phúc Âm Luca 9, 28b-36
I. Giáo Huấn P.Â.:
Cuộc đời Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế, giống như cuộc đời các nhà lãnh đạo và các Tiên Tri trong Cựu Ước, có cả đau khổ và vinh quang.
Hôm nay, Chúa cho tông đồ thấy Chúa biến hình tức thấy Chúa lúc vinh quang.
Sau nầy, khi các ông chứng kiến Chúa chết nhục nhả trần truồng trên thánh giá tức lúc Chúa đau khổ. Hy vọng các ông vẫn giữ vững niềm tin vào Chúa.
Đấng Cứu Thế là Con Thiên Chúa, là người được tuyển chọn để cứu độ nhân loại qua đường thập giá. Chương trình cứu độ và Đấng Cứu Thế được sai đến trần gian không là chuyện tùy hứng hay xốc nỗi, nhưng đã “được tuyển chọn” và đã được định trước.
II. Vấn nạn P.Â.
Mô-sê là ai? Êlia như thế nào? Làm sao Ông Phêrô có thề biết được danh tánh hai người đang đàm đạo với Chúa là Môisê và Êlia?
Môsê có nghĩa là được cứu khỏi nước. Tên được những Công Chúa của vua Pharaô đặt cho khi cứu sống cậu bé Do Thái bị bỏ trong thúng và thả trôi sông. Ông được cứu sống khỏi nước để rồi sau nầy chính Ông thành người cứu Dân Tộc mình khỏi chết chìm giữa lòng biển Đỏ. Ông là thế hệ thứ hai người Do Thái sinh trưởng ở Ai Cập, khoảng 12 thế kỷ trước Chúa Giêsu.
Môsê được Chúa chọn làm lãnh tụ đưa dân ra khỏi ách nô lệ Ai Cập, khi Ông chăn chiên cho nhạc phụ Giêtrô ở vùng Midian, chân núi Horeb (Sách Xuất Hành chương 3) Ông quay trở lại diện kiến Pharaô và xin cho dân đi. Vua không đồng ý. Ông xin Chúa giáng 10 tai họa trên dân. Sau cùng Ông đã dẫn Dân Do Thái qua Hồng Hải khô chân.
Ông lên núi Sinai lãnh hai bia đá khắc mười giới răn Chúa truyền. Ông là người đồng hành với dân suốt bốn mươi năm dài trong sa mạc. Ông chịu nhiều đau khổ, vì dân phản bội Chúa thờ tà thần, vì dân cứng cổ chống đối ông. Ông đã nghe lới Chúa treo cao con rắn đồng trong Sa Mạc để thành dấu cứu dân khỏi rằn độc (Dân Số 21,9 và Gioan 3,14) Ông cũng là người yếu tin, đập gậy vào đá tời hai lần, để làm nước vọt ra cho dân uống thỏa thuê, nhưng ngược lại lệnh Chúa truyền (Dân Số 20,11) Nên Ông đã chết trước khi vào đất Chúa hứa.
Ông chính là tác giả của ngũ kinh, tức năm quyển sách đầu trong bộ Cựu Ước: Sáng Thế, Xuất hành, Lê Vi, Dân Số và Đệ Nhị Luật. Môsê, một lãnh tụ, một cứu tinh đưa dân mình khỏi Ai Cập. Môsê, một nhà làm luât và là một tiên tri, người trung gian giữa Chúa và dân. Ông là người đã thấy Chúa và vinh quang Thiên Chúa. Nhưng Ông cũng là người đau khổ vì chu toàn sứ mạng Chúa trao phó.
Elia sống dưới thời vua Ahab, Ahaziah và Giêhôram, tức tiền bán thế kỷ 9 trước Công Nguyên. Elia có nghĩa “Yahvê là Chúa” Tên gọi nầy nhằm diễn tả sứ mệnh của Elia: Bênh vực Thiên Chúa, chống lại thần Baal. Ông chủ trương độc thần: Yahvê là Chúa duy nhất của Israel. Ông chống lại nền phượng tự ngoại nhập, đa thần đang bành trướng thời bấy giờ do các hoàng hậu ngoại giáo, cụ thể là hoàng hậu Giê-zi-ben của vua Ahab. Elia thi tài và chiến thắng 400 tư tế của Hoàng hậu Giêziben. Dân chúng nổi dậy, giết hết tư tế ngoại giáo. Hoàng hậu Giêziben ra lệnh lùng bắt Elia. Ông trốn chạy lên núi thánh Chúa là Horeb mất 40 ngày (Sách các vua quyển I, chương 18 và 19)
Tiên Tri Êlia là người được thấy Chúa và vinh quang Thiên Chúa trên núi Horeb. Nhưng Ông cũng là người bị săn đuổi và bị bách hại vị bảo vệ niềm tin độc thần của Do Thái. Ông đã đói lã nằm hôn mê trên đường lên núi Chúa. Sứ thần Chúa đã hiện ra cho Ông bánh và nước để tiếp tục hành trình lên núi thánh (Sách Các Vua quyển I chương 19)
Thời đó không có một phương tiện ghi nhận hình ảnh gỉ cả. Thêm vào đó, Phúc Âm Luca còn nói “Ông Phêrô và đồng bạn thì ngủ mê mệt!” Vậy thì làm sao Phêrô có thể nhận ra hai người đang đàm đạo với Chúa Giêsu là Môsê và Êlia?
Có người cắt nghĩa rằng: Từ thời nầy sang thời khác, người ta kể cho nhau nghe chuyện Môsê và Êlia. Phêrô nhận ra người xuất hiện đàm đạo với Chúa Giêsu ám hạp với lời kể đã từng nghe. Đồng thời nội dung cuộc đàm thoại giúp Ông nhận ra và xác định danh tánh các nhân vật.
Cách giải thích khác xem chừng hợp lý hơn. Thánh sử Luca là môn đệ của Phaolô. Cả thầy trò, đều không thuộc nhóm mười hai, tức không biết gì về chuyện biến hình. Phúc Âm Luca thành hình trễ sau hai Phúc Âm Matthêô và Matcô. Nên Luca có cơ hội để thu thập những tường thuật từ các Phúc Âm khác như Ông xác nhận “Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thật tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra…” (Luca 1,1-4). Luca không cần chứng kiến cảnh Chúa biến hình và cũng không cần mô tả chính xác. Không thấy thì làm sao biềt thế nào là chính xác. Ông chỉ cần viết lại theo những tường thuật của những người đi trước và đặt vào đó quan điểm thần học của mình. Nên danh tánh của những nhân vật trong biến cố biến hình đã có sẵn từ trước. Không ai đặt vấn đề: có thật là Môsê và Êlia không? Và cũng không ai thắc mắc làm sao Phêrô nhận ra hai bậc tiền bối sống trước Ông hơn một ngàn năm? Đó không là mấu chốt Giáo lý Phúc Âm dạy. Nhưng là vấn đề Đức Kitô, con Thiên Chúa, mang cả hai bản tính: Thiên Tính và nhân tính. Ngài đau khổ như con người chúng ta. Nhưng Ngài là Thiên Chúa đầy vinh quang sáng láng.
Chúa chọn 12 tông đồ và họ kế cận bên Chúa. Nhưng có những trường hợp “xé lẻ” như việc Chúa biến hình trên núi Tabor hôm nay. Sao Chúa chỉ mang theo có ba Ông Phêrô, Gioan và Giacôbê, các tông đồ còn lại bị bỏ lại dưới chân núi?
Trong số 12 tông đố có hai Giacôbê:
Giacôbê tiền (James the Greater), tức Giacôbê anh em ruột với Gioan tông đồ, cả hai là con Ông Giêbêđê và bà Salomê, là một trong bốn tông đồ được Chúa chọn đầu tiên chung với hai anh em Phêrô và Anrê. (Matcô 1, 16-20 và Matt.4,21-22).
Giacôbê hậu (James the less), con của Ông Alphê, truyền thống Giáo Hội thời bấy giờ cũng gọi là James người công chính (James the Just). Giacôbê hậu, con Ông Alphê được Kinh Thánh Tân Ước nhắc đến bốn lần trong Matt. 10,3; Matcô 3,18; Luca 6,15 và Tông Đồ Công Vụ 1,13
Trong Phúc Âm, ba lần Chúa Giêsu cho ba ông Phêrô, Gioan và Giacôbê theo Chúa: Khi Chúa Giêsu đến cứu sống con gái Ông trưởng hội đường tên Giairô ( Luca 8,51 và Matcô 5,37); Rồi tám ngày sau Chúa đưa Phêrô, Gioan và Giacôbê lên núi cầu nguyện và biến hình như trong Phúc Âm Luca hôm nay. Tìm thấy tường thuật tương tự ở Matcô 9,2 cũng như trong Matt. 17,1 và qua tường thuật của Matthêô chúng ta biết đây là Giacôbê, con Ông Giêbêđê, anh em với Gioan tông đồ; Lần thứ ba, Chúa dẫn ba Ông Phêrô, Gioan và Giacôbê vào vườn cây đầu cầu nguyện. (Matcô 14,23)
Chúng ta không rõ trong lần thứ nhất và thứ ba Giacôbê nào theo Chúa? Phêrô và Gioan tông đồ được đề cập rõ ràng, còn tên Giacôbê không được minh định rõ ràng. Tuy nhiên vấn nạn của chúng ta là tại sao lại có vấn đề xé lẻ và riêng tư nầy? Tại sao chỉ có ba mà không tất cả mưới hai tông đồ?
Có vài ý kiến:
Đây là những môn đệ đầu tiên. Đầu tiên thì dễ được ưu tiên. Tuy nhiên, Anrê anh của Phêrô cũng là một trong bốn môn đệ đầu tiên, nhưng Ông không bao giờ có tên trong chuyện ưu tiên nầy.
Đây là những môn đệ trong tương lai được tín nhiệm trao phó nnhững trọng trách như Phêrô là thủ lãnh, Gioan trẻ trung, độc thân và được Chúa yêu, còn Giacôbê truyền giáo xa tận Tây Ban Nha… Điều nầy đúng với Phêrô và Gioan, nhưng không đúng với Giacôbê. Có những tông đồ trỗi vượt hơn Giacôbê con Ông Giêbêđê nầy như Tôma, truyền giáo mãi tận Ấn Độ hay Matthêô, vừa tông đồ và vừa thánh sử.
Tôi xin trả lời bằng cách đặt vấn nạn? Tại sao Chúa chọn Phêrô, người chối Chúa, nóng tính và có lần bị mắng là quỉ lên hàng thủ lãnh các tông đồ? Tại sao Chúa chọn người tầm thường nầy lên làm linh mục, còn những người xuất sắc khác đáng làm linh mục hơn lại cũng chỉ là giáo dân? Đó là vấn đề của Chúa và Chúa có lý do riêng không cần giải thích với bất cứ ai là tại sao? Chính đương sự cũng không hiều lý do? Chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời nầy trong dụ ngôn thợ làm vườn nho Chúa, mỗi người lãnh chỉ một đồng bằng nhau vào cuối ngày, dù làm ít giờ hay nhiều giờ. Đó “là quyên của tôi!” (Matt.20,1-16).
Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta có nhiều bạn bè. Trong số nầy, có những bạn bè gần. Trong số những bạn bè gần, có những người mà chúng ta gọi là rất thân, sống chết có nhau và sẵn sàng chia sẻ mọi chuyện thầm kín. Tại sao? Vì họ là bạn thân? Nhưng tại sao thân? Tại vì gần gũi, thông cảm…vài lý do loanh quanh khác… để rồi sau cùng chính đương sự cũng không biết sao mình lại chọn người nầy làm bạn rất thân mà không là người khác.
Cả Ba Phúc Âm nhất Lãm đều tường thuật: có tiếng từ trong đám mây phán … tức tiếng Thiên Chúa Cha phán, nhưng cả ba lời phán lại khác nhau, dù từ Thiên Chúa Cha. Ý nghĩa của những lời phán khác nhau nầy theo các Thánh Sử?
Matthêô tường thuật Chúa biến hình trên núi Tabor trong chương 17, 1-9 với lời phán của Thiên Chúa Cha từ đám mây “ Đây là con Ta yêu đấu, luôn làm đẹp lòng Ta, hãy nghe lời Ngài”. Lời phán nầy chúng ta đã nghe thấy trong Matt.3, 17 khi Chúa Giêsu chịu phép rửa.
Matcô tường thuật Chúa biến hình trên núi Tabor trong chương 9, 2-8 với lời phán của Thiên Chúa Cha từ đám mây “Nầy là Con Ta yêu dấu, hãy nghe lời Ngài” Lời phán nầy cũng đã nghe thấy trong Matcô 1:11 khi Chúa Giêsu chịu phép rửa “Con là con Ta yếu dấu, Ta rất hài lòng với con!”
Luca tường thuật Chúa biến hình trên núi Tabor trong chương 9, 28-36 như chúng ta thấy hôm nay với lời phán của Thiên Chúa Cha từ đám mây “Đây là Con Ta, người được tuyển chọn, hãy nghe lời Ngài!” Lời phán nầy xem chừng khác so với Luca chương 3,21-22 khi tường thuật Chúa chịu phép rửa “Con là con Ta yếu dấu, Ta rất hài lòng với con!”
Cả ba Phúc Âm Nhất Lãm khi tường thuật việc Chúa chịu phép rửa đều đặt vào thời gian Chúa Giêsu bằt đầu cuộc đời truyền đạo. Cả ba Phúc Âm Nhất Lãm khi tường thuật việc Chúa biến hình trên núi Tabor đều đặt vào thời điểm cuối năm thứ hai cuộc đời truyền đạo. Tất cả đều xác nhận rằng: Việc cứu độ trần gian là chương trình của Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, sinh xuống làm người để thực hiện chương trình cứu độ. Từ đầu cho đến cuối, dù đau khổ hay bị ngược đãi, Chúa Giêsu luôn trung thành, luôn là con yêu dấu của Thiên Chúa Cha.
Riêng Phúc Âm Thánh Luca, câu nói của Thiên Chúa Cha ở núi Tabor, khi Chúa Giêsu biến hình có phần khác so với khi Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông Hòa Giang. Thánh Luca thêm “Đây là Con Ta, người được tuyển chọn…” Thánh Luca, môn đệ của Phaolô, chịu ảnh hưởng sâu đậm về học thuyết “chương trình của Thiên Chúa” (God’s Plan hay God’s will). Abraham được chọn làm tổ phụ dân Chúa. Môsê được chọn làm lãnh tụ đưa dân ra khỏi Ai Câp… Phaolô được chọn làm tông đồ dân ngoại (Tông Đồ Công Vụ 22, 15 và 26,18) Không có việc gì nằm ngoài chương trình của Chúa cả. Tất cả đều được tuyển chọn.
Giáo lý của Luca là: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa xuống trần, sống giữa con người để thực hiện chương trình cứu độ đã có từ ngàn đời. Chúa Giêsu phải chịu đau khổ để đi vào vinh quang Phục Sinh. Đó là chương trình của Thiên Chúa Cha. Từ đó, Chúa Giêsu, trong vườn cây dầu, dù sợ chết mà van xin “Lạy Cha, nếu có thể, xin cất chén nầy xa con… nhưng rồi phải nói thêm… xinh đừng theo ý con, nhưng cho ý Cha được tròn” (Luca 22, 42) Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa.
III. Thực hành P.Â.:
Chúa cầu nguyện thường xuyên
Phúc Âm tường thuật 15 lần Chúa cầu nguyện. Trong đó, Phúc Âm Thánh Luca kể được 11 lần. Nên Phúc Âm Thánh Luca thường được gọi là Phúc Âm của lòng thương xót Chúa và thỉnh thoảng cũng có người gọi là Phúc Âm cầu nguyện.
Tại sao phải cầu nguyện? Vì khi cầu nguyện, con người được biến hình trở nên sáng láng. Sáng láng ở đây không có ý nói đến diện mạo bên ngoài như quần áo nên trắng tinh, hay mặt mày tỏa chiếu hào quang như khi Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor trong Phúc Âm hôm nay. Nhưng người cầu nguyện được biến đổi. Vì tâm hồn được nâng lên cao như lên núi Chúa. Con người được tiếp xúc và được bộc lộ tâm tư nguyện vọng của mình cho Chúa. Nên tu đức gọi là: kết hợp với Chúa khi cầu nguyện.
Muốn làm cho mình biến đổi tốt hơn, tỏa chiếu dung mạo của Chúa trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải cầu nguyện. Thánh Phanxicô Xaviê đã bỏ cả địa vị cao trong xã hội để đi truyền giáo là nhờ Ngài cầu nguyện. Mẹ Têrêsa thành Calcutta luôn cầu nguyện để thực thi thánh ý Chúa. Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận khuyên là: “Nếu con sa ngã phạm tội hay gặp muôn vàn khốn khó thì hãy tự hỏi xem mình đã bỏ cầu nguyện bao lâu rồi?”. Cầu nguyện là biến hình, là thay đổi, là bộc lộ vinh quang của Thiên Chúa trong đời sống mình.
Chúng ta cầu nguyện cho mình và cầu nguyện cho người khác. Chỉ có Chúa mới có khả năng hoán cải con người. Luôn vững tin rằng không việc gì mà Chúa không làm được. Khi xem Video “Le Saint Curé D’Ars” tôi thấy vừa khi đến giáo xứ là Cha Gioan Maria Vianney vào ngay trong nhà thờ cầu nguyện, rổi Ngài dọn dẹp bàn thờ, giật chuông và kêu gọi giáo dân đến dâng lễ cầu nguyện. Một bà cụ già đến, vài người đến xem coi chuyện gì xảy ra… nhưng rồi sau đó tất cả đã được hoán cải. Người ta được hoán cải vì lời cầu nguyện, vì đời sống cầu nguyện và vì con người cầu nguyện của Cha Gioan Maria Vianney.
Tôi luôn nhớ lời Cha Thánh: Linh Mục phải thánh thiện thì mới gọi là Prêtres pour le salut du monde. Tôi không thể có đời sống thánh thiện, nếu tôi không cầu nguyện, không tiếp xúc với Chúa là Đấng Thánh. Những giáo dân quen biết cũng hay tâm sự: Chúng con không cần linh mục làm ăn giỏi hay có biệt tài về đàn hát… nhưng chúng con rất cần linh mục Thánh Thiện..
Ngày 25.2.2013 Thứ Hai sau Chúa Nhật II Mùa Chay Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Đa-ni-ên 9:3,4-10 Tiên Tri đại diện cho dân chúng để xin tha tội đã xúc phạm đến Chúa và không tuân giữ giới răn Chúa. Phúc Âm: Luca 6:36-38 Đừng xét đoán và kết án để khỏi bị đoán xét và kết án. Đong cho người khác đấu nào sẽ được đong lại đấu ấy. Suy tư Xóm tôi ở bên VN có anh thanh niên đánh cha mình đến trọng thương. Không mấy người can ngăn, chuyện xảy ra nhiều lần và người ta cho biết rằng: Ơng bố bị đánh đáng đời, ngày xưa Ông ta cũng đánh bố Ông ta trọng thương. Luật nhân quả được nhìn nhận ! Nhưng không lẽ giòng họ nầy phái đánh bố dài dài theo kiều cha truyền con nối để luật nhân quả áp dụng?
Luật nhân quả là hình thức răn đe trong luân lý và để hỗ trợ cho lý thuyết đầu thai của Phật Giáo. Nó không đúng trong chủ trương sám hối hay hoán cải của Công Giáo. Sám hối là thay đổi là cắt đứt “cái quả” xấu để thăng hoa tốt hơn. Trước khi Chúa nói “chớ đoán xét, chớ kết án để khỏi bị đoán xét và kết án” thì Chúa đã nói “hãy thương xót như Cha các người trên Trời!”.
Điểm chính của Phúc Am không là khuyên: phớt lờ, đừng có ý kiến hay xét đoán gì ai cả để cũng được tha thứ, phớt lờ, nhưng là rộng lượng tha thứ cho nhau: Nếu nhân không tốt, cơ duyên không hay thì cũng phải cố gắng thay đổi, hoán cải để sinh quả tốt, quả thương xót và thứ tha.
Quí Cha Giám Đốc và Ban giáo sư Chủng Viện vẫn phải đoán xét và đánh giá học lực, hạnh kiểm và ơn gọi của những ứng sinh linh mục. Ban Giám Hiệu trường học phải quyết kết học lực của học sinh: tốt hay xấu.Cha Mẹ phải quả quyết với con gái mình rằng: vô phòng con trai lâu giờ và đóng cửa lại là xấu và mang hậu quả không hay. Không lẽ lại bảo “That’s O.K.! That’s fine!” để được tiếng là không đoán xét hay giàu lòng thương xót!
Phải biết đánh giá và kết luận việc nên việc hư, người tốt người xấu, nhưng tìm cách giúp đỡ với lòng thương xót, tha thứ hoán cải chứ không phớt lờ theo kiểu nhận chìm để cầu an.
Ngày 26.2.2013 Thứ Ba sau Chúa Nhật II Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Sách tiên tri Isaia 1.10,16-20 Hãy tập làm điều thiện và tìm kiếm lẽ công chính. Làm điều thiện được chúc phúc. Làm điều ác sẽ bị trừng phạt.
Phúc Âm: Matthêu 23.1-12 Giảng dạy hay tỏ ra có quyền giảng dạy không làm cho người ta thành mô phạm. Sống điều mình dạy làm mình thành mô phạm.Chỉ có Chúa là mô phạm, là bậc Thầy đúng nghĩa vì Chúa dạy và sống điều mình dạy.Khiêm hạ là sống tín thác vào Thiên Chúa toàn năng và nhìn nhận những gì mình đang có là do Chúa ban.
Suy tư Phần anh em thì đừng để ai gọi mình là rappi, vì anh em chỉ có một Thầy, còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất nầy là Cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Kitô.
Một trong những lý do làm cho đạo Công giáo bị bắt bớ ở Việt Nam là Vua và Chúa. Đạo Công giáo dạy rằng: Chỉ có thờ một Chúa là vua các vua, là Chúa các Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng tạo thành muôn vật. Đang khi đó Khổng Giáo dạy rằng: Vua là Chúa! Tôi trung phải thờ Vua. Phải theo trật tự Quân thần sư phụ! Vua là đấng cầm quyền sinh sát thần dân. Nếu đạo Công Giáo được loan truyền khắp nước, có nghĩa là vị vua sẽ mất quyền làm Chúa, quyền sinh sát thần dân. Dân nước sẽ không còn thờ vua nữa. Đạo Công Giáo cũng bị đả kích trong việc thờ cúng Ông bà tổ tiên. Người ta chủ trương thờ cha kính mẹ. Đạo Công Giáo dạy: Thờ Phượng một Thiên Chúa muôn loài mà thôi. Nếu theo đạo công giáo có nghĩa là bỏ việc thờ Cha kính mẹ? Các vua chúa Việt Nam đã hiều sai và đã bắt đạo. Nhiều người Việt Nam hiểu sai và đã không vào đạo vì sợ không ai thờ cúng ông bà.
Khi Chúa dạy “đừng để ai gọi mình là rappi, vì anh em chỉ có một Thầy, còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất nầy là Cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Kitô” Không phải Chúa dạy là: từ nay về sau dừng gọi ai là Thầy, là Cha hay là lãnh đạo, nhưng chỉ có Chúa là Thầy, là Cha, là lãnh đạo đúng nghĩa và tối cao, vì chỉ có Chúa mới là chân lý, chỉ có Chúa mới sinh dựng nên chúng ta và chỉ có Chúa mới là vị lãnh đạo đích thức. Gọi những người khác là Thầy, là Cha, là lãnh đạo không có nghĩa họ là những mô phạm hay những bậc sinh thành như Chúa.
Xin về coi lại bàn thờ nhà mình: Bàn thờ có phải chiếm chỗ nhất trong nhà không?
Đó là bàn thờ Chúa hay bàn thờ ai khác. Không ai bằng Chúa là Đấng Tạo Hoá cả.
Ảnh tượng Chúa có đặt ở chính giữ bàn thờ không? Đức Mẹ và các thánh có chỗ kém hơn.
Những vật dụng khác tuyệt đối không ở trên bàn thờ.
Mỗi ngày, gia đình qui hướng về bàn thờ Chúa và tỏ lòng tôn kính Chúa.
Ngày 27.2.2013 Thứ Tư sau Chúa Nhật Thứ II Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Giêrêmia 18:18-20 Giêrêmia cầu xin Chúa bênh vực mình trước mưu mô gian ác của kẻ thù. Phúc Âm: Matthêu 20:17-28 Mẹ của Gioan và Giacôbê đến xin Chúa cho hai con mình ngồi hai bên tả hữu Chúa Giêsu trong vinh quang. Ghen tương, giận dỗi xảy ra giữ các tông đồ. Suy tư
Phải thành thật nhận rằng: Linh mục, tu sĩ chúng ta thường bị hấp dẫn mạnh bởi quyền chức cũng như đẵng cấp, thứ bậc. Nơi tôi làm việc có 4 soeur người Châu Phi đến phụ giúp việc cho chúng tôi. Có hai chị hay 4 chị thì cũng có chị làm bề trên. Chị bề trên thường có bổn phận dòm ngó những chị em khác và không bao giờ để những chị em khác tiếp xúc với bất cứ ai. Thật ngột ngạc với bầu không khí nhiều chức quyền nơi cộng đòan quá ít người nầy. Lúc còn ở Việt Nam khi có đại tiệc trong Toà Giám Mục là tôi chật vật với chuyện xếp chỗ cho hơn 100 cha và khách mời. Phải xếp đúng chỗ ngồi theo chức phận, tuổi tác và năm chịu chức. Hơn 20 cha phó nhưng Cha Phó Nhà Thờ Chánh Toà phải ngồi chỗ cao hơn các phó. Nhức đầu! Vào thăm một nhà dòng, tôi thường mất tự nhiên vì gặp quá nhiều Bề Trên: Bề Trên dòng, Bề Trên Nhà Tập, Bề Trên đệ tử, bề trên nhà … Tôi rối loạn, nên thường gặp ai cũng nghiêng mình cúi đầu chào Bề Trên. Chắc ăn! Trước năm 1975 nhiều địa phận Miền Bắc có trụ sở trong Miền Nam và một Cha được xưng gọi là Cha Chính. Cha Chính được hiều là Vicar General chăng? Vicar General là do Giám Mục chánh toà. Giám Mục địa phận chết hay thuyển chuyển, Vicar General đó không còn. Không đúng, nhưng vẫn duy trì nhiều chục năm và người được gọi Cha Chính vẫn vui vẻ nhận. Khi vừa định cư Canada, tôi thích ngay cái chuyện dùng bữa theo kiểu tự lo: Ai muốn ăn gì, uống gì, tự lo liệu lấy. Nó bình đãng và nhẹ nhàng cho người có trách nhiệm. Hết rồi cái chuyện ngồi bên tả bên hữu trong nước Ngài. Ở đây đúng là không còn Bề Trên hay bề dưới mà chỉ có bề ngang thôi.
Thánh Phaolô khuyên “chức vụ là để phục vụ chứ không phải để hưởng thụ!” Chúa cũng nói:”Ai làm lớn phải làm đầy tớ anh em mình!” Giáo Hội, một tổ chức trần thế, cũng phải có kẻ trên người dưới, kẻ giữ quyền nầy, kẻ giữ chức nọ, nhưng giữ sao cho quyền chức đừng trở thành mối ganh tị nơi người khác và sự tự cao nơi bản thân mình.
Ngày 28.2.2013 Thứ Năm sau Chúa Nhật Thứ II Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Giêrêmia 17:5-10 Phúc cho những ai biết tín thác nơi Chúa! Họ như cây trồng bên bớ suối nước, cành lá xum xuê, trái đơm trĩu cành. Phúc Âm: Luca 16:19-31 Câu chuyện phú hộ sống trong nhung lụa dư dật và Ladarô nghèo đói. Đổi đời sau khi chết: Ladarô lên thiên đàng, phú hộ xuống hoả ngục. Suy tư
Người phú hộ bị phạt không vì giàu, nhưng vì nhẫn tâm không san sẻ cho người đau khổ, đói khát nằm ngay trước cỗng nhà. Ladarô được thưởng không vì nghèo, nhưng vì nhẫn nhịn chấp nhận bị đối xử vô nhân và bất công.
Sao lại là bất công khi tôi không cho người khác cái thuộc về tôi? Điều răn thứ bảy và thứ mười dạy tôn trọng của cải của người khác, nhưng cũng dạy rằng: Chúa là chủ của tất cả của cải vật chất. Cái chúng ta có là do Chúa ban để chúng ta phân phát cho người khác khi họ cần. Chính vì vậy khi thấy người đói khát túng thiếu chúng ta phải chia sẻ. Phải, mang nghĩa bắt buộc, không làm là có tội chứ không là chuyện tùy hỉ, làm không làm cũng không sao.
Trong ý nghĩa nầy chúng ta mới hiểu được tại sao trong ngày chung thẩm Chúa lại phạt những người đã từ chối giúp đỡ anh em mình. Không bắt buội, không thể ra hình phạt.
Đội công an biên phòng áp tải chúng tôi từ ngoài cửa biển vào đất liền để giam. Gần hai ngày bị trói thúc ké bỏ nằm dưới sàng khoang ghe: nắng nóng cháy da, đói, khát, mệt và nhục. Cái đói và nhục lên cực độ khi đôi lần chiếc ghe áp tải người dừng lại bến chợ để mua thức ăn đồ uống. Cơm tắm, cháo gà, hủ tiếu, mì nóng thơm ngon bốc khói được mang xuống và đội công an quay quần ăn uống no nê trước mặt những tên tù đói meo. Thật tôi chưa bao giờ thấy đói và thèm một mảnh vụn thức ăn như lúc đó. Tôi úp giấu mặt mình dưới sàng để khỏi nhìn thấy những chiếc miệng nguồm ngoàm, nhai nhóc nhách thức ăn và những gương mặt mãn nguyện, hí hững vì no. Ác thật! không những bỏ đói chúng tôi nhưng bày ra cảnh ăn no thoả thuê trước người đói. Một cách trừng phạt khủng khiếp!
Ladarô nằm ngay trước cổng nhà người phú hộ: mang cái đói và chứng kiến cái phủ phê của người khác. Đói khổ cùng cực! Nhẫn tâm ngất cao!
Ngày 1.3.2013 Thứ Sáu sau Chúa Nhật Thứ II Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Sáng Thế Ký 37:3-4,12-13,17-28 Giuse bị anh em ganh ghét tìm cách thủ tiêu và sau cùng bị bán sang Ai Cập. Phúc Âm: Matthêu 21:33-43, 45-46 Dụ ngôn những tá điền giết đầy tớ Ông chủ và sau cùng giết đứa con thừa tự để chiếm gia sản. Những tá điền bị tước đoạt quyền lợi. Dân Do Thái từ chối Nước Trời, dân ngoại được hưởng. Suy tư
Sao Chúa lại dùng những dụ ngôn ‘móc họng’ để chọc giận người Do Thái? Chúa thương dân Do Thái, vì Chúa được sai đến với những con chiên lạc nhà Israel. Chúa đã khóc thương Giêrusalem vì thấy trước số phận của nó. Nhưng họ quá ngoan cố, nên Chúa phải dùng những dụ ngôn nhắm thẳng đối tượng. Do Thái không phục thiện, căm tức chồng chất và mưu đồ giết Chúa đang thành hình.
“Tôi sợ người có một quyển sách”, tục ngữ Tây Phương muốn diễn tả sự thiển cận, chủ quan hay ngoan cố của một số người: bám chặt một định kiến và không chấp nhận một thứ phản đề nào.
Vì hoàn cảnh, 15 anh em chủng sinh chúng tôi, khác tuổi, khác địa phận, khác dòng tu tạo thành nhóm, sống chung, phục vụ cộng đồng dân Chúa. Có một anh em xé lẻ, đi chơi riêng, đặc biệt có nhiều dấu hiệu rõ rệt mang bệnh đồng tính. Chúng tôi chả ghét bỏ gì người anh em nầy, nhưng không chơi được. Người anh em bỏ rơi chúng tôi lại phao tin rằng: chúng tôi thiếu bác ái, khai trừ anh ta và tôi được nêu đích danh.
Có lần tôi đặt vấn đề công khai và thẳng thắng: Nếu có phân nửa số anh em chơi với Thầy và tôi không chơi. Tôi xin nhận lỗi! Còn ở đây 14 anh em không sao chơi với thầy được. Vậy thì vấn đề nằm ở Thầy chứ không phải ở chúng tôi. Tướng cướp còn có bạn! Người anh em nầy sôi sụt căm hận với tôi từ ngày ấy.
Cần biết thêm nhiều sách! Cần chấp nhận ý kiến của những người không cùng quan niệm với mình. Cố chấp đi liền với cô lập và bị khai trừ.
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta có thể làm thầy giáo, nhưng nhiều lúc nên làm học trò để được sửa sai, chỉ bảo, dù đôi khi gặp phải những bậc thầy đáng tuổi con cháu mình.
Ngày 2.3.2013 Thứ Bảy sau Chúa Nhật II Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên tri Maica 7:14-15, 18-20 Maica xin Chúa hãy chăn dắt đàn chiên Ngài như xưa và xin tha thứ mọi bất xứ nơi Dân Người.
Phúc Âm: Luca 15:1-3, 11-32 Dụ ngôn người con trai hoang đàng. Chúa là người Cha giàu lòng thương xót, mở rộng vòng tay đón con hoang quay về. Suy tư
Xa Cha, xa nhà và lâm cảnh túng cùng đã cho người con hoang một so sánh và sáng mắt nhận định: Không đâu bằng nhà Cha mình. Anh quay về! Sau khi quay về, người con hoang sẽ quý nhà Cha hơn người con cả chưa hề đi hoang.
Thánh Phaolô nói: Felix culpa! Tội hồng phúc! Vi tội Adam, Chúa sai Con Một Ngài xuống trần để cứu chúng ta. Tội đã thành phúc lớn! Phạm tội cho chúng ta dịp so sánh và quý báu tình Chúa và quay về để nhận phúc được tha tội. Không khuyến khích phạm tội để sám hối và nhận ơn Chúa tha thứ nhưng khi có tội, người có cơ hội nhận phúc lớn để biết hoán cải và quay về nhà Cha.
“Thức đêm mới biết đêm dài”. Không ai khuyên thức đêm, nhưng nhờ thức đêm mới nhận ra chiều dài của đêm tối. Nghèo không ai ham và cũng không là phúc. Nhưng khi lâm cảnh nghèo người ta cảm nghiệm được cái khổ của kiếm nghèo cũng như thông cảm và thương người nghèo.
Không còn dịp sinh sống trên quê hương mình, tôi thấy yêu quê hương nhiều hơn và dễ tha thứ những gì đáng trách, đáng chê ngày xưa. Ở Núi Sập có một linh mục hồi tục lâu năm, có vợ có con. Cha vẫn cất giữ một cách cẩn thật và ấp yêu những áo lễ và chén lễ. Cha vẫn nhớ và tiếc nuối thời làm linh mục. Người ta quý cái người ta đã mất.
Phạm tội không ai tránh được. Chỉ xin cho chúng ta biết đón nhận ơn Chúa, để so sánh, để mở mắt thật to mà nhận rằng: Không đâu bằng nhà Cha mình! Không ai yêu mình hơn Chúa và sớm sám hối quay về. Khi sống cảnh mồ côi, đứa con sẽ thấy quý báu biết chừng nào cảnh sum họp gia đình có Cha có mẹ. Khi sống cảnh cô đơn, xa nhà, đứa con sẽ lấy làm quý hoá biết bao mái ấm gia đình có Cha có mẹ. Đứa con hoang đàng quay về với tình Cha mà mình đã lỡ đánh mất. “Lạy Chúa! Con yêu thánh điện nhà Ngài! Một ngày trong nhà Chúa bằng ngàn vạn ngày sống xa Chúa!” Hạnh phúc biết bao cho người Công Giáo được đi về nhà Cha mỗi Chúa Nhật để cùng với anh chị em mình đọc kinh, dự lễ và thờ phượng Chúa. “Đi về Nhà Chúa! Tim con reo hoan lạc Chúa ơi! Đi về Nhà Chúa! Ôi yêu thương mến yêu ngập tràn”
Muốn nghe bài giảng Giáo Lý Phúc Âm Chúa Nhật, xin vào Website: liengiaositusi.com - Phần Giáo Lý.
Giáo Lý Phúc Âm - CHÚA NHẬT III MÙA CHAY NĂM C - ngày 3.3.2013
Sách Xuất Hành 3,1-8a, 13-15; Thư I Thánh Phaolô gửi Côrintô 1Cor.10,1-6.10-12
và Phúc Âm Luca 13, 1-9
I. Giáo Huấn P.Â.:
Tại hoạ và tội lỗi. Thực tế của đời sống và thực tại của đời người.
Tai hoạ tức thiên tai hay ác xấu xảy ra không nhằm trừng phạt những ai có tội.
Tai hoạ xảy ra cũng không là một tán thành luật nhân quả “ác giả, ác báo hay ở hiền gặp lành ở ác gặp dữ”
Người có tội và cố tình không sám hối, không cải tà qui chánh chắc chắn bị luận phạt. Luận phạt có nghĩa là chặt bỏ như cây không sinh trái, tức giết chết và ném vào lửa hoả ngục.
Ai cũng có tội. Ai cũng phải sám hối để tránh bị chặt bỏ và bị tiêu diệt
II. Vấn nạn P.Â.
Tổng trấn Philatô là ai? Tại sao Ông giết người Galilê?
Sau khi Vua Hêrôđê Cả băng hà vào năm thứ 4 sau công nguyên, Hoàng đế Roma Augustô chia Do Thái thành ba tiểu quốc cho ba con trai của Hêrôđê Cả: Hêrôđê Antipas làm vua Galilê và vùng tả ngạn sông Giôđan. Hêrôđê Philip cai quản Golan và Miền Đông Bắc. Hêrôđê Arkêlaus cai trị Giuđêa và miền Idumea. Đế quốc Roma cai trị các thuộc quốc theo hình thức đặt những tổng trấn để giữ gìn an ninh trật tự và nhất là để thu thuế cho hoàng đế Roma.
Thời Chúa Giêsu, Philatô làm tổng trấn Giuđêa từ năm 26-36 sau công nguyên, dưới thời hoàng đế Tiberius Cêsar. Ông là vị tổng trấn thứ năm kể từ khi Giuđêa mất chủ quyền. Ông thi hành nhiệm vụ tổng trấn dài đến 10 năm ở Giuđêa. Theo sử gia Flavius Josephus, tổng trấn Philatô là người không có thực quyền, mà tính khí lại nông nỗi, bộc trực và nhất là hay dùng quyền lực và sức mạnh quân sự đàn áp dân chúng, nhất là những phe phái, những phong trào nỗi lên chống La Mã. Ông ta được nhắc đến nhiều nhờ dính líu đến vụ án Chúa Giêsu.
Trong Phúc Âm Luca hôm nay, người ta báo cáo với Chúa rằng “những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết, khiến máu họ đổ ra hoà lẫn với máu tế vật đang dâng” Tại sao Philatô giết người Galilê? Phúc Âm không đề cập. Sử gia Flavius Joseph, trong sử ký Do Thái thời cổ thuật lại ít là ba biến cố người Galilê bị Philatô tàn sát. Người ta đoán là biến cố sau đây có liên quan đến đoạn phúc Âm Luca tường thuật hôm nay.
Đó là việc Philatô , có thể do việc âm thầm cấu kết với thượng tế Caipha, dùng tiền dâng cúng trong đền thờ để dẫn nước ngọt cách đó 35 cây số vào Giêrusalem, đặc biệt vào dinh tổng trấn của Ông. Hàng ngàn người Do Thái chống đối, dâng lễ tế kêu cầu danh Yahvê tiêu diệt đế quốc La Mã và nguyễn rũa tổng trấn. Philatô ngầm cho lính ăn mặc giả dạng giống như người Do Thái, trà trộn vào đám đông đang chống đối. Đến thời điểm đã ngầm chỉ thị hành động, quân lính dùng gươm dáo giết những công dân Do Thái vô tội. Khiến máu họ hoà lẫn với lễ tế đang dâng. Chuyện kể xảy ra ở Giêrusalem, nhưng sao lại nói đến sự tàn sát người Galilê tức người Miền Bắc? Không có giải thích rõ ràng. Ức đoán rằng, đây là dịp lễ hội lớn có nhiều người từ Miền Bắc Giêrusalem tế lễ trong đền thờ.
“Mười tám người bị tháp Si-lô-a đổ xuống đè chết” Tháp Silôa ra sao và chuyện tháp đổ xảy ra như thế nào?
Theo tường thuật Thánh Kinh thì Tháp Silôa là một tháp cỗ xây dựng ở vùng Silôa, phía Nam Giêrusalem và vì lâu đời không còn kiên cố đủ nên đã đổ sập đè chết mười tám người thời Chúa Giêsu.
Có những nhà chú giải thánh kinh thì cho rằng: Hồ nước Silôa hay hồ nước Bethsaida được tường thuật trong Gioan chương 5, hay tháp Silôa chỉ là những cổng ra vào khác nhau của cùng chung một khu vực tên Silôa. Tuy nhiên, cắt nghĩa nầy không đúng vì công trình khai quật cho thấy Ao nước Bethsaida nằm phía Bắc chứ không ở phía Nam Giêrusalem chung với tháp Silôa.
Cũng có người cho rằng: Tháp Silôa là một phần của hệ thống dẫn thuỷ của quân đội La Mã nhằm dẫn nước từ hồ Silôa. Bản thân hồ Silôa thì nhận nước tử thác Gihon. Tuy nhiên nhiều nhà chú giải cho rằng tháp Silôa là pháo đài quân đội được xây nhằm giữ trậr tự an ninh cho thủ đô Giêrusalem. Tuy nhiên giải thích nầy vẫn không thoả đáp được thắc mắc là: Làm sao một đồn lính có quân đội đang trấn giữ mà lại có thể sập đổ một cách dễ dàng như vậy?
Chúng ta không tìm ra lý do chắc chắn tại sao Tổng Trấn Philatô giết người Galilê và tại sao tháp Silôa đổ sập đè chết mười tám người. Vì Phúc Âm Thánh Luca trong Chúa Nhật III Mùa chay hôm nay không nhằm thoả đáp vấn nạn “tại sao?” nhưng chỉ muốn dùng hai tai hoạ xảy ra mà ai cũng biết nầy để chuyển đạt sứ điệp nầy: Ai cũng có tội. Bất cứ ai cũng cần sám hối. Nếu không cũng sẽ chết tất cả.
Quan niệm hoạ đâu thì tội đó có đúng không? Có phải Chúa dùng tai hoạ để giáng phạt người có tội chăng?
Không đúng!
Chính Chúa Giêsu không nhìn nhận quan niệm hoạ đâu thì tội đó hay ngược lại tội mang hoạ. Vì “Các Ông tưởng mấy người Galilê đó tội lỗi hơn hết mọi người Galilê khác bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao?” Rồi Chúa nói tiếp “Cũng như mười tám người kia bị tháp Silôa đổ xuống đè chết, các Ông tưởng họ là nnhhững người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giêrusalem sao?”
Những người bị chết vì tai hoạ nầy không phải họ không có tội nhưng không phải vì có tội mà họ bị nhận lãnh tai hoạ. Cũng như người không gặp tai hoạ không phải là những người vô tội.
Chúa là Cha chúng ta. Không có Cha nào nở lòng trừng phạt con mình, Thiên Chúa ban phúc cho cả kẻ lành người dữ kia mà (Matt.5,45) Chúa là người Cha nhân hậu hơn chúng ta, ai trong chúng ta là Cha mẹ, không lẽ con cái xin bánh lại cho đá? Không lẽ con cái xin trứng lại cho rắn hay bò cạp? (Luca 11,11) Chúng ta không cầu tai hoạ bao giờ, chỉ cầu phúc lành. Vậy Chúa là Cha chúng ta không lẽ ban cho chúng ta tai hoạ?
Nếu chấp nhận quan niệm “hoạ đâu tội đó!” thì bảy mươi lăm ngàn nạn nhân chết trong trận động đất ở Haiti hôm ngày 12 tháng giêng năm 2010 vừa qua là những người tội lỗi hơn chúng ta sao? kể cả Đức Tổng Giám Mục Joseph Serge Miot, vì đất rung chuyển mạnh đánh sập Toà Giám Mục và Ngài té nhào lộn cổ chết? Rồi mới gần đây, ngày 27.2.2010, động đất xảy ra ở Chí Lợi giết chết cả ngàn người. Những nạn nhân nầy là những người tội lỗi hơn chúng ta và đáng chết sao?
Chúng ta thường yêu cầu Chúa làm những chuyện mà Chúa không làm hay đi ngược với luật định tự nhiên. Thí dụ chúng ta cầu nguyện cho một chuyến đi xa an toàn, nhưng chúng ta lái xe 150 cây số giờ thì ai có thể giữ cho chúng ta an toàn? Nếu chúng ta được an toàn sau chuyến chạy xe quá tốc độ nầy, chúng ta nghĩ là Chúa phù hộ chúng ta chăng? Còn nếu chúng ta gây tai nạn chết người vì chạy quá nhanh. Chúng ta bảo là Chúa không thương và không giữ gìn chúng ta chăng? Đây là kết quả của thứ tôn giáo tình cảm. Tin Chúa và cầu xin Chúa không vì phần rỗi của chúng ta, nhưng vì tình cảm thiếu trưởng thành và vì những lợi ích rất trần thế. Đây là thứ niềm tin tôn giáo của những người đi cúng vái và đi khấn Vía Bà ở Núi Sam Châu Đốc. Vì lợi lộc tiền bạc vật chất cá nhân.
Không, Chúa là Cha chúng ta, Chúa không thể nào dùng tai hoạ để tàn sát con cái Chúa. Những thiên tai xảy ra hàng ngày trên thế giới, là kết quả tự nhiên của vạn vật vũ trụ. Động đất thường do núi lửa dưới lòng biển sâu hoạt động, tạo chấn động mạnh, gây rung động mặt đất và làm mọi thứ sụp đổ. Những vùng đất nào nằm trong tầm ảnh hưởng núi lửa sẽ bị phá huỷ. Luật tự nhiên!
Có những ác xấu khác do con người gây ra thí dụ như Hai Toà Tháp Thương Mãi cao ở Nữu Ước đã bị khủng bố đánh sập ngày 11.9.2001 thì thế nào? Chúa xúi khủng bố làm chuyện ác xấu giết người nầy chăng?
Chúa là Đấng Thánh và tốt lành tuyệt đối không thể nào làm chuyện ác xấu hay tạo cơ hội để ác xấu xảy ra. Nhưng tất cả là do dã tâm của con người. Con người, chịu ảnh hưởng của tà thần, đã dùng tự do và trí thông minh Chúa ban để mang tai hoạ cho đồng loại.
Một thí dụ khác: Chúng ta cầu cho gia đình hạnh phúc, đang khi chúng ta chọn chồng hay vợ một cách xốc nỗi thiếu suy nghĩ, như thành vợ chồng trong chuyến đi chơi ở Hạ Uy Di hay Las Vegas? Chúa không thề làm ảo thuật để biến một cô gái đi hoang từ năm 16 tuổi thành một cô vợ hiền hay một bà mẹ đảm đang mang hạnh phúc cho gia đình được? Thử hỏi những người nầy có bao giờ học cho biết thế nào là làm vợ và thế nào là bổn phận của cha mẹ trong gia đình chưa? Chúa không thể ban cho chúng ta cái mà chúng ta không xin và cái mà chúng ta không bao giờ được chuẩn bị để có.
III. Thực hành P.Â.:
Phải sám hối để đời sống sinh hoa kết quả.
Sám hối là gì? Theo nghĩa Kinh Thánh và trong tiếng La-Tinh, Sám hối là penitentia. Sám hối thường phải hội đủ những yếu tố sau:
Nhận ra những điều sai phạm – Xét mình.
Hối tiếc và thật lòng xin lỗi Chúa – Ăn năn tội.
Nhận ơn tha tội – Xưng tội
Quyết tâm thay đổi từ suy nghĩ và hành động sao cho đúng với thánh ý Thiên Chúa và mang ích lợi thiêng liêng. Yếu tố cuối cùng nầy tiếng Việt gọi là dốc lòng chừa, đoan hứa là không phạm tội nữa.
Lịch sử dânThiên Chúa là những chuỗi ngày lập đi lập lại những yếu tố trên: Gặp thử thách – Phạm tội – nhận biết tội – hối hận xin lỗi Chúa – Nhận ơn tha tội rồi sau đó …lại phạm tội….. Chúng ta có thể thấy những hành động phạm tội, sám hối và nhận ơn tha thứ trong Sáng thế Ký 4,7; Sách Lê-vi 4, 5; Sách Đệ Nhị Luật 4:30, 30:2; Sách Các Vua quyển I 8:33, 48; Tiên Tri Hôsêa 14:2; Tiên Tri Giêrêmia 3:12, 31:18, 36:3; Tiên Tri Ezêkien 18:30-32; Tiên tri Isaia 54:22, 55:6-10; Tiên tri Gioên 2:12; và Tiên Tri Giona 2:10.
Điều nầy không xa lạ gì với cá nhân mỗi người chúng ta: Phạm tội – Sám hối – Xưng tội – Dốc lòng chừa tội rồi lại phạm tội…. và cứ diễn đi diễn lại cho đến giờ chết. Nên Bí tích giài tội Chúa lập thật cần thiết cho con người yếu đuối của chúng ta. Bí tích giải tội được Chúa lập để tha các tội chúng ta phạm sau khi rửa tội. Trên thực tế ai cũng phạm tội sau khi rửa tội. Nên tất cả đều cần sám hối và cần đi xưng tội.
Có nhiều người ngại đi xưng tội, vì không muốn nói tội mình ra cho người khác. Thứ đến “xưng chi cho mất công, vì cứ phạm đi phạm lại hoài!” Người khác mà chúng ta nói tội mình ra là linh mục. Linh mục khi ban bí tích thì hành động in personna Christi capitis, hành xử trong con người Chúa Kitô là thủ lãnh. Nên đó là Chúa Kitô qua hình ảnh linh mục, cũng là tội nhân như chúng ta. Thứ đến, biết rằng chúng ta sẽ sa đi ngã lại trong một thứ tội. Nên chúng ta được khuyến khích xưng tội bất cứ khi nào có tội. Còn thừa tác viên của bí tích giải tội thì là Giám Mục, linh mục bình thường hay cả những linh mục đã hoàn tục đáp ứng cho những hối nhân trong trường hợp nguy tử (Giáo luật 986 §2)
Không có “BÁC và ÁI” nhưng chỉ có “BÁC-ÁI”.
Theo nguyên ngữ tiếng Việt: “BÁC” có nghĩa là bao la, rộng rãi. Nên Bác sĩ là người uyên bác, học rộng, hiểu nhiều. “ÁI” là yêu thương. Người có bác ái là người có tình yêu thương bao la, rộng lớn với những người trong cảnh cùng khổ hay những ai cần giúp đỡ.
Người Việt Nam nói chung, đặc biệt người Công Giáo Việt Nam thực hiện chữ “ÁI” thật tốt. Nhưng dường như thiếu “BÁC” hay nói khác đi thiếu chiều kích phổ quát, rộng rãi hay phi biên giới. Năm nào thiên tai bão lụt cũng xảy ra bên Việt Nam, nhất là Miền Trung Việt Nam. Thì dụ Bão Ketsana số 9, năm 2009 và trước đó Bão Lekima năm 2007. Người Việt Nam, bất kể lương giáo trên khắp các Châu Lục đều tích cực quyên góp cứu trợ nạn nân bão lụt Việt Nam. Chúng ta quen gọi là bà con ruột thịt thân thương. Nhiều người E-mail và nhắc nhỡ tôi ra thông báo kêu gọi cứu trợ bão lụt Việt Nam. Số tiền quyên góp và gửi về Việt Nam không nhỏ chút nào. Nguyên chỉ gần 20 cộng đoàn công giáo Việt Nam ở Canada quyên góp cứu trợ bão lụt Ketsana số 9 lên đến 150 ngàn Gia kim. Ở Vancouver và Surrey đã có gần 100 ngàn. Rất đáng khâm phục và khích lệ! Felix Viet Nam! Ôi, Việt Nam hồng phúc!
Tuy nhiên, nhiều khi “ÁI” theo kiểu Việt Nam mình bị hạn hẹp và giới hạn trong nước Việt Nam và cho bà con ruột thịt Việt Nam mình thôi. Không có tội lỗi gì cả trong chuyện nầy, nhưng chúng ta thật sự thiếu “BÁC” và nếu căn cứ vào Lời Chúa nói thì “nào có ích chi, nều chỉ yêu thương người yêu mình hay chỉ yêu thương bà con ruột thịt của mình?” (Luca 6,27-36). Mới gần đây thôi, ngày 12 thang 1, 2010, động đất xảy ra ở Haiti giết chết bảy mươi lăm ngàn người và gây tan thương, không nhà cửa, không lương thực cho một triệu người khác. Bão lụt Ketsana số 9 có là gì so với trận động đất khủng khiếp ở Haiti. Nhưng thử hỏi, chúng ta, người Công Giáo Việt Nam có giúp đỡ những nạn nhân “không ruột thịt” nầy tới mức nào? Có được 1/10 so với số tiền giúp bão lụt Ketsana số 9 ở Việt Nam không? Có nhiều người diện dẫn cho chuyện thiếu “BÁC” của mình bằng việc đổ thừa cho Hội Đồng Giám MJục Canada “sao không nghe các Đức Cha Canada nói gì cả!” Thật sự Hội Đồng Giám Mục Canada đã ra thông báo khẩn cấp kêu gọi giúp Haiti hai ngày sau, tức ngày 14.1.2010.
Có chủng viện ở một giáo phận Canada năm nào cũng cho chủng sinh và đôi khi chính ban tổ chức tiếp xúc với tất cả giáo xứ trong địa phận, trong đó có giáo xứ Việt Nam để được phép đến giáo xứ cổ động ơn thiên triệu cũng như vận động tài chánh cho chương trình đào tạo linh mục. Chủng viện và chủng sinh, liên tiếp ba năm, ba lần liên lạc điều bị Cha xứ Việt Nam từ chối. Lý do: Giáo Xứ Việt Nam trong giáo phận Canada, nhưng có chương trình vận động ơn thiên triệu riêng cho dòng tu Việt Nam. Ai cũng công nhận Cha xứ có một vận động rất hay và rất kết quả cho ơn thiên triệu dòng tu Việt Nam. Không ai có thể chối bỏ việc thể hiện “ÁI” nơi Cha và giáo dân Việt Nam mình. Nhưng xem chừng thiếu “BÁC”, chúng ta chỉ biết yêu thương người trong nhà mà thiều một tình yêu phổ quát và rộng rãi như từ BÁC ÁI mà chúng ta được kêu gọi thể hiện đúng như tinh thần bác ái Kitô giáo.
Ngày 4.3.2013 Thứ Hai sau Chúa Nhật III Mùa Chay Lời Chúa Bài đọc I: Sách các Vua quyển II 5:1-15 Elisha chữa Naaman, tướng quân xứ Aram khỏi bệnh cùi. Phúc Âm: Luca 4:24-30 Chúa Giêsu cũng như các tiên tri xưa không được tiếp nhận nơi quê hương mình. Ơn cứu độ đến với dân ngoại cũng như Elia cứu một bá goá ngoại giáo ở Zarepta khỏi chết đói và cũng như Elisha cứu tướng quân Naaman, người ngoại giáo khỏi phong cùi. Suy tư
Ơn Chúa bao giờ cũng đủ cho chúng ta! Thánh Phaolô nói thế! Như vậy khi nói người thiếu ơn Chúa không có nghĩa là ơn Chúa thiếu nhưng có nghĩa là người đó từ chối dùng ơn Chúa. Có nhiều khi chúng ta không có được cái gì đó là vì chúng ta đã mặc nhiên khước từ.
Chỉ sau 20 năm di cư vào Nam, người Miền Bắc càng ngày càng giàu bỏ xa người Miền Nam. Họ biết xử dụng mảnh đất trù phú sẳn có của Miền Nam để xây dựng một đời sống sung túc nhờ tính cần cù làm việc và nếp sống cần kiệm. Dân Miền Nam hiền lành, dễ thương và chân chất nhưng lè phè kiểu lục bình trôi sông lại thêm tật hào phóng kiểu công tử Bạc Liêu nên nghèo ngay trên mảnh đất màu mỡ. Người Miền Nam đã từ chối cơ hội làm giàu và sống sung túc. Nói thật!
Thổ dân Da Đỏ, chủ mảnh đất mênh mông, trù phú nhiều khoán sản, lâm sản của Canada. Gần năm trăm ngàn Ông Bà Chủ không phải làm lụng gì cả, người “ở nhờ” nuôi ở không ăn nhậu, mỗi tháng tiền tự động vào trương mục. Càng ngày Ông Bà chủ càng mất chủ quyền, sáng say chiều xỉn, tôi sà quầng, nhà không ở, ra đường phố ngữa tay xin “kẻ ở nhờ” từng xu cent. Thổ Dân Da đỏ đã từ chối quyền làm chủ mảnh đất bằng những tiêu cực: nghiện ngập, phóng túng và ý chí lụn dần. “Người ở nhờ” cần cù khai thác mảnh đất, chiếm dần quyền làm chủ.
Ơn Chúa và cơ hội thành đạt ở ngay trong chính chúng ta và môi trường chúng ta sống! Làm việc chăm chỉ, siêng năng sẽ giúp đời mình có ích, ích cho mình và cho người khác.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II làm việc từ 12 đến 14 tiếng đồng hồ một ngày ở tuổi 85! Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI ở tuổi 86, vừa lãnh đạo Giáo Hội toàn cầu, vừa bận rộn với trăm ngàn cuộc hội họp lớn nhỏ… tuy nhiên Ngài vẫn có giờ chơi đàn dương cầm và viết sách cũng như soạn bài giảng cho mỗi thánh lễ. Một gương thật sáng trong việc dùng ơn Chúa!
Tận dụng giờ giấc để phục vụ là cách đào luyện năng khiếu bản thân và làm cho mình thành người hữu ích cho mọi người. Hạnh phúc biết bao khi thấy mình còn được người khác “nhờ” hay “sai” làm việc nầy việc nọ.
Ngày 5.3.2013 Thư Ba sau Chúa Nhật III Mùa Chay Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Đaniên 3:25, 34-43 Lời cầu khẩn của những người bị bách hại vì danh Thánh Chúa. Chúa nghe lời người công chính và ra tay giải thoát. Phúc Âm: Matthêu 18:21-35 Phải tha thứ luôn. Dụ ngôn con nợ bất nhân, được tha món nợ khổng lồ, nhưng không biết tha món nợ nhỏ của đồng bạn. Suy tư Tha thứ cho anh em mình vì chúng ta đã được Chúa rộng lượng thứ tha. Thời Quân Quản sau biến cố tháng 4, 1975 là thời trả thù và thanh trừng. Tận mắt chứng kiến đôi vụ hành hình, xử bắn có, xử bằng bẻ cổ có … làm tôi bất nhẫn tột cùng và nghĩ rằng: chiến tranh thật đáng sợ, vì giết chết nhiều người, nhưng hận thù còn đáng sợ hơn: giết chết cả dân tộc.
Hận thù giết chết con người: mau già, thất vọng và sống thụt lùi trở về quá khứ, làm dĩ vảng sống lại và quên hiện tại. Có gì là anh hùng khi truy lùng giết thêm một số người được coi là bại trận. Ích lợi gì khi đem nhốt tù hàng trăm ngàn người, hàng trăm ngàn gia đình tang tóc, phải mất hàng trăm ngàn người chỉ ăn rồi làm điều tra viên, làm quản giáo, làm lính coi tù. Người tù và kẻ canh tù đều là những người không sản xuất chỉ tiêu thụ tốn phí.
Ai cũng sợ người trả thù. Nên tìm cách xa tránh, trốn thoát. Đất nước mất người, mất của và mất cả tương lai. Có Cha xứ vì không ưa gia đình Ông Bà kia, đã cấm không cho con gái nhà Ông bà đó hát trình diễn thánh ca. Giáo dân gọi quý Cha là cha. Tại sao cha lại đi ăn thua đủ, và chấp nhất nhỏ nhen với những đứa con mình?
Cha khách tới giảng một lần ở giáo xứ thật thu hút, giáo dân càng khen cha khách càng làm Cha xứ không vui. Thế là từ đó không còn cha khách nào được giảng. Cha khách giảng có thu hút chút ít cũng thường chỉ là chuyện lâu lâu có món ăn lạ, người ta cảm thấy ngon miệng hơn thôi. Không nên buồn, nhưng vui vì giáo dân mình có được món ăn ngon miệng. Làm cha, không lẽ mình mất vui vì con cái có món ăn ngon?
Rộng lượng tha thứ không là nhu nhược hay là chuyện của cõi trên, siêu thực, nhưng là chuyện rất nhân bản và anh hùng. Ai cũng thích chơi với người rộng rãi, quảng đại. Người rộng lượng tha thứ có tâm hồn bình an và yêu đời. Trong gia đình, hãy rộng rãi lời khen thưởng khích lệ con cái hay anh chị em mình! Có người cho rằng: “Phải thành thật! Nên cần phải bảo cho nó biết ngay là nó hát không “ngửi” được chút nào!” Có nhiều chuyện thật không cần phải nói ngay! Hãy để cho người khác từ từ khám phá! Tôi thích cách “để từ từ!”
Ngày 6.3.2013 Thứ Tư sau Chúa Nhật III Mùa Chay Lời Chúa Bài đọc I: Nhị Luật 4:1,5-9 Môsê truyền dạy dân chúng tuân thủ luật pháp Chúa để được lân bang tôn trọng. Hãy truyền dạy luật Chúa cho con cháu. Phúc Âm: Matthêu 5:17-19 Chúa đến để hoàn thiện luật Cựu Ước. Luật Chúa có tính cách vượt thời gian. Suy tư Có nhiều chuyện tưởng đã thành chân lý ngàn đời nhưng lại bị đảo ngược: Toà Án tối cao Canada hôm 12.12.2004 tuyên bố hôn nhân đồng tính là hợp pháp và nằm trong quyền làm người. Một anh chàng người Mỹ 40 tuổi có 16 vợ và 24 đứa con, được lên truyền hình và được ca ngợi là có tài tề gia vượt bực: 16 bà vợ sống trong hoà thuận, chăm chỉ làm ăn kiếm tiền nuôi con mình và nuôi ông chồng chung. Có một người vợ của anh ta và đứa con gái riêng của bà nầy đều có thai với anh ta và cả hai mẹ con rủ nhau sanh cùng ngày. Luân thường đạo lý chào thua!
Thế hệ nầy không những không tôn trọng và tuân giữ luật Chúa mà còn chà đạp và phá đổ. Như vậy sẽ không được chúc phúc và cũng không được Chúa bảo vệ. Không nhận được phúc có nghĩa là bị giáng hoạ.
Canada ít thiên tai so với nhiều chỗ trên thế giới nhưng mấy năm gần đây cũng thấy nhiều cảnh cáo: Québec năm 1998 bị bão tuyết tàn phá nặng, có nơi bị cúp điện hàng tháng, nhà sập, người chết. Ontario và thành phố Toronto cuối năm 2002 bị bệnh Sars hoành hành làm tê liệt chợ búa. Manitoba và Saskatchewan là những đồng bằng phì nhiêu, nhưng thất thu mấy năm liền. Alberta bị bò điên hành lỗ nhiều tỷ bạc. British Columbia bị dân Á Châu trồng cần sa làm lũng đoạn kinh tế. Thống kê xã hội cho hay các tỉnh bang cực đông càng ngày càng nhiều gái điếm, không việc làm, đi làm điếm kiếm tiền. Một ngày Chúa Nhật gió lốc đã cuống phăng hai trăm lều và một ít xe của những người đi cắm trại quanh hồ ở Alberta. Năm nay, năm 2013, tỉnh bang Alberta lạnh tê tái và tuyết rơi ngập đường. Đã hơn hai tháng qua, lúc nào cũng giữ độ trừ khoảng 15-20 độ C.
Một gia đình Công Giáo óan trách Chúa vì để con gái họ bị chết trong cuộc đua thuyền vào ngày Chúa nhật vừa qua. Tôi im lặng nghe họ ta thán và nghĩ rằng: Chúa Nhật, ngày của Chúa, xin dành cho Chúa, đừng lấy cắp để xử dụng cho sở thích vui chơi bất cần tôn giáo.
Hôn nhân đồng tính là một thứ bệnh cần chữa chứ không phải một thứ quyền lợi cần thoả đáp. Chúa không trả thù con cái mình, nhưng những bệnh nan y: Aids, HIV phần nhiều phát xuất từ những thứ quan hệ tình dục không bình thường nầy.
Ngày 7.3.2013 Thứ Năm sau Chúa Nhật III Mùa Chay Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Giêrêmia 7:23-28 Dân Do Thái bị Chúa quở trách cứng đầu cứng cổ không nghe lời những sứ ngôn của Chúa. Phúc Âm: Luca 11:14-23 Dân chúng thấy Chúa trừ quỉ đã không nhận ra thần quyền nơi Chúa thì chớ lại còn bảo Chúa dùng quyền quỉ cả trừ qủi con. Suy tư
Ngỗ ngáo và phạm thượng xem chừng tràn ngập trong văn hoá và phim tuồng ngày nay. Phim “The Pope must die” coi thường vai trò Đức Giáo Hoàng như một Christ’s Vicar dưới trần gian. Hồng Y đoàn đã bầu một linh mục gốc thợ sửa xe lên làm Giáo Hoàng. Ong mang cả một tình nhân giấu trong điện Vatican và việc làm đầu tiên là bỏ luật kiêng thịt. Phim “Những con chim ẩn mình chờ chết” cũng hàm chứa một chế nhạo luật độc thân linh mục công giáo khi đặt vào miệng vị Tổng Giám Mục, sau một đêm ân ái với người tình:”Đây là ngày hạnh phúc và có giá trị nhất trong đời mà anh chưa bao giờ có!”
Đức Giám Mục Adam Exner, nguyên tổng Giám Mục Vancouver cũng phát biểu rằng: Xã hội ngày nay đánh mất ý thức về sự thánh thiêng: tất cả đều vật chất trần tục, không có gì là cao cả hay siêu nhiên và cũng không có gì là tội.
Nhiều người trân tráo chỉ trích Bố Mẹ sinh ra mình chỉ do lúc hứng tình. Nhiều người coi chức linh mục chỉ là một nghề kiếm sống, chả có chút giá trị hy sinh hay thánh thiêng gì cả. Ngất ngưỡng trong chiến thắng mùa xuân, người ta cũng dẹp luôn Thượng Đế: Thằng Trời đứng dẹp một bên, để cho Thủy Lợi đứng lên làm Trời! Sau biến cố 1975, có nhiều dịp dự những khoá học tập chính trị, tôi đã được nghe những lời thật khích lệ nầy: Bảo đảm, 20 năm sau chúng ta không cần đọc Kinh Lạy Cha “xin cho lương thực hằng ngày’ vì của cải vật chất dư thừa, đất nước thái bình, thạnh trị, không còn trộm cắp gian tham, vì ai cũng có dư, lấy của người khác làm gì?
Từ năm 1917 đến nay người ta vẫn đọc Kinh Lạy Cha và càng ngày phải đọc nhiều hơn và thành khẩn hơn, vì có tới 40 ngàn trẻ em chết hàng ngày vì đói. Năm 2004, có 1500 cô gái Việt Nam phải bỏ quê hương đi lấy chồng Đài Loan, Hồng Kông, Singapore để kiếm vài trăm đô la Mỹ. Bị chỉ trích, chính quyền làm ăn kín đáo hơn chuyện đem đàn bà Việt gả bán kiếm tiền.
Đó là quốc nhục cần phải khiêm tốn nhìn nhận để sám hối và cũng để ý thức về Đấng Thánh trên cao và sự thánh thiêng trong cuộc sống. Bao lâu trong đời sống cá nhân không có Chúa là bấy lâu còn khốn khổ bất an. Bao lâu xã hội còn chống Chúa là bấy lâu còn nghèo đói, bất công. Người Cộng Sản cần mở mắt để nhận ra những đau khổ do vô thần gây ra.
Ngày 8.3.2013 Thứ Sáu sau Chúa Nhật III Mùa Chay Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Hôsêa 14:1-9 Đừng cậy dựa vào lân bang, nhưng vào Chúa, Đấng tha thứ tội lỗi và cứu sống chúng ta. Phúc Âm: Matcô 12:28-34 Hai giới răn cao trọng nhất “kính Chúa hết cả tâm hồn và yêu thương người khác như chính mình”. Suy tư
Có lần tôi in 2000 tờ con bướm mang tựa đề “Let me knock on your door” có hình Chúa Giêsu đang gỏ cửa để gửi đến từng gia đình lương giáo trong thị trấn. Tôi xin người công giáo hãy giữ đạo và thực hành đức tin. Xin người không Công Giáo hãy tìm hiểu đạo và gặp tôi để học giáo lý.
Vài lá thư đáp trả rất tiêu cực: Đạo Công Giáo của Ông đâu có tốt gì mà kêu người ta theo! Nếu tốt, người Công Giáo đã không giành giựt, đàn áp các tôn giáo khác ở Đất Thánh. Nếu tốt, các linh mục Công Giáo đã không quấy nhiễu tình dục hại các trẻ em. Nếu tốt, Ông và cộng đoàn đã không mở Bingo, cờ bạc lấy tiền dân chúng.
Những phản ảnh nầy không đúng nhưng làm tôi ý thức về sự bén nhạy của dân chúng về công bằng xã hội, về tương quan hàng ngàng. Tiền bỏ rỗ Chúa Nhật thường chỉ đủ chi dụng trong giáo xứ, trả lương cho linh mục, nhưng giáo dân đã cho gấp năm lần hơn để cứu trợ nạn nhân sóng thần ở các nước Á Châu. Nhiều linh mục Việt Nam sang để xin trợ giúp cất nhà thờ, có thể thành công ở các cộng đoàn Việt Nam, nhưng sẽ thất bại nặng ở những cộng đoàn người da trắng. Muốn được ủng hộ phải nhắm vào những chương trình giáo dục, từ thiện bác ái xã hội.
Người ta sẽ dẹp hết tất cả nếu chúng ta không thể hiện yêu thương với người khác. Cây Thánh Giá được tạo bởi hai chiều: dọc và ngang. Chiều dọc hướng về Chúa, chiều ngang hướng về đồng loại. Thánh giá, dấu chỉ cứu dộ. Thánh Giá, một cấu tạo của hai giới răn kính Chúa Yêu người. Xin hãy giữ nó nguyên hình trong cuộc sống Kitô hữu. Cứ dấu nầy mà người ta nhận biết chúng ta là môn đệ Chúa Giêsu: yêu thương nhau, thực thi công bằng bác ái. Thật khó nhưng không có chọn lựa khác!
Chúa chiến thắng vì yêu thương người khác cho đến chết!
Mẹ Têrêsa thành Calcutta đã sống thật trọn vẹn Đức Ái Kitô giáo vì đã yêu thương người nghèo đến tận cùng.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được muôn người mộ mến vì Ngài yêu thương đặc biệt trẻ thơ và cực lực bảo vệ thai nhi.
Ngày 9.3.2013 Thứ Bảy sau Chúa Nhật III Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Hôsêa 5:15-6:6 Lòng sám hối phải thật tâm và sâu đậm, đừng như sương mai hay như mây ban sáng, có đó rồi tan ngay.
Phúc Âm: Luca 18:9-14 Dụ ngôn Biệt Phái và Thu Thuế lên đền thờ cầu nguyện. Kết quả: Thu thuế được công chính hoá còn Biệt Phái thì không. Suy tư Thu thuế được tha tội,được công chính hoá vì ý thức mình có tội và xin tha tội. Biệt Phái không được ơn tha tội vì cho mình không có tội lại còn kể lễ công đức. Chúa nâng người khiêm tốn và hạ kẻ tự cao.
Có vài dịp tiếp xúc với các vị lãnh đạo cộng đoàn Việt Nam Hải Ngoại tôi được nghe nhiều thành tích chiến đấu hào hùng ngày xưa của họ ở VN. Giờ sang định cư, các vị vẫn to tiếng liệt kê những công trạng của mình với cộng đồng người Việt “Một tay con không đó thưa Cha!” hay “không có tôi làm thế nầy, nói thế khác thì chẳng được như vậy”. Phô trương quá đáng! Nếu những vị nầy đã hào hùng trong chiến tranh như họ nói, chắc họ và gần ba triệu người Việt Nam khác không cần có mặt ở đệ tam quốc gia như hiện nay.
Tờ Bulletin, tin tức mục vụ giáo xứ thường chiếm khá nhiều chỗ để nêu danh tánh và liệt kê chức vụ, công đức của những vị hữu trách. Cha xứ cũng tế nhị không dám quên “hết lòng tri ân” những vị hữu công nầy. Chúng ta thích để yên hay được thoả thích khi người khác nâng mình lên. Nếu ai đó lỡ quên hay thiếu sót tuyên dương thường bị trách là vô ơn như gà ăn rồi quẹt mỏ.
Một anh thợ điện công giáo đến khoe rằng: Lúc nhà thờ nầy cất, tôi đã hiến công, của để chạy điện khắp nhà thờ, trị giá $36000. Thank you very much and what happens next? Tôi hỏi. Anh ta im lặng. Cái kế tiếp là từ ngày đó anh không đi lễ và cũng không dâng cúng gì thêm. Công đức vậy là quá đủ chăng?
Ngày nay, chủng sinh và tân linh mục Việt Nam có khuynh hướng tìm kiếm nhiều Ông bà Cố nuôi Việt Kiều. Ngày phong chức linh mục, Ông bà Cố nuôi khoe rằng: Không có tôi, Cha mới làm gì có ngày nay…Thật là buồn cho Cha Mẹ đẻ của tân linh mục. Công sinh đẻ dưỡng nuôi chả nghe ai nói đến! Linh mục không đáng làm linh mục vì thiếu phán đoán, không biết ai thật sự có công trong việc thành công làm linh mục của mình.
Chúa biết chúng ta đã làm gì, tốt xấu ra sao, đáng thưởng hay đáng luận tội. Xin đừng liệt kê, kể lễ dài dòng. Có một điều cần là đấm ngực ăn năn sám hối và xin thứ tha. Điều mình đã làm được chưa đáng gì so với những việc mình không làm hay làm tầm bậy. “Xin được làm cây bút chì đơn mọn trong bàn tay quyền năng Chúa” như lời cầu khiêm tốn của Mẹ Têrêxa thành Calcutta.
Muốn nghe bài giảng Giáo Lý Phúc Âm Chúa Nhật, xin vào Website: liengiaositusi.com - Phần Giáo Lý
Giáo Lý Phúc Âm - CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY NĂM C - ngày 10.3.2013
Sách Giôsuê 5, 9a, 10-12; Thư II Thánh Phaolô gửi Côrintô II Cor.5,17-21
và Phúc Âm Luca 15, 1- 3, 11-32
I. Giáo Huấn P.Â.:
Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ và hay tha thứ.
Tội lỗi là bất hạnh, là xa rời tình thương Chúa như người con hoang bỏ nhà ra đi.
Tội lỗi đưa con người vào cảnh đói khổ, rách rưới, nô lệ và bị bỏ rơi cô đơn trần trụi.
Sám hối có nghĩa là quay về với Chúa là Cha. Chỉ có nơi Chúa, nơi nhà Cha mới có tình thương, có hạnh phúc và có tương lai. Đứa con hoang được vui mừng đón nhận, phục hồi quyền làm con: đeo nhẫn, mang giày mới và tương lai thừa kế gia sản.
Ai cũng có tội. Ai cũng có lúc bỏ nhà Cha và đi hoang. Xin luôn nhớ: Không có ai bằng Chúa, không đâu bằng nhà Cha mình. Nơi Chúa, nơi nhà Cha, người ta được hưởng tình yêu thương và tương lai được thừa hưởng hạnh phúc thiên đàng.
II. Vấn nạn P.Â.
“Những người thu thuế và những người tội lỗi thường đến gần Chúa Giêsu mà nghe Người” Họ như thế nào trong xã hội? Tại sao Chúa lại thích gần gũi với họ?
Những người thu thuế thường cũng được gọi là publicans. Ngữ nguồn từ tiếng La-tinh publicus, có nghĩa là người trông nom những nơi công cộng như quán rượu, nhà cửa, dinh thự công cộng. Trong Kinh Thánh Tân Ước và trong thế kỷ đầu công nguyên, người thu thuế là người làm việc cho đế quốc La Mã. Họ được xếp vào hạng người bất chính và tội lỗi. Bất chính vì làm việc cho đế quốc La Mã, chuyên thu thuế bóc lột dân nghèo. Tội lỗi vì thường lấy thuế quá luật qui định, gian tham để có cuộc sống sung túc trên xương máu của người khác.
Nên chúng ta thấy Phúc Âm hôm nay nói: “Những người thu thuế và những người tội lỗi” coi như là một hạng người. Hay nói khác đi: Thu thuế là tội lỗi. Chúng ta cũng thấy rõ cái nhìn nầy nơi Phúc Âm Luca 18:9-14 tường thuật câu chuyện người Pharisêu công chính và người thu thuế tội lỗi lên đến thờ cầu nguyện. Nhìn nhận mình là tội nhân nến người thu thuế đứng cuối nhà thờ âm thầm cầu nguyện, đấm ngực xin ơn tha tội. Còn người Pharisêu tự cho mình là công chính, đứng giữa nhà thờ lớn tiếng kể công và đòi phần thưởng.
Luca 5,27-32 thuật lại câu chuyện chúa kêu gọi Lêvi đang hành nghề thu thuế. Ông bỏ mọi sự, mời Chúa về nhà dùng bữa và theo làm tông đồ Chúa. Matthêu, Tông Đồ và thánh sử. Luca chương 19 tường thuật chuyện Ông Giakêu, viên thu thuế giàu có, tò mò leo lên cây cao để nhìn trộm Chúa. Chúa phát hiện, đến trọ ở nhà Ông. Ông tự nguyện phân phát của cải cho người nghèo và đền bù cân xứng cho những ai bị bóc lột. Chúa đã tuyên bố “Ơn cứu độ đã đến với nhà nầy” Phúc Âm cũng không quên tường thuật chi tiết là người Do Thái sầm xì vì Chúa đến dùng bữa nơi nhà người thu thuế tội lỗi như Lêvi và Giakêu. Đối với họ, “thật chướng mắt vì Chúa đồng bàn với phường tội lỗi!”
Nhưng Chúa Giêsu lại thích qua lại và làm bạn với những người bị coi là tội lỗi. Vì đó là sứ mệnh của Chúa Giêsu:
Chúa được sai đến với chiên lạc nhà Israel như trong Phúc Âm Matthêu 15, 24
Chúa đến để kêu gọi người tội lỗi chứ không phải người công chính như trong Luca 5, 32 và trong Phúc Âm Gioan 3,17.
Chúa như người chủ chiên nhân hậu sẵn sàng bỏ 99 con chiên không lạc để băng rừng vuợt suối tìm cho được con chiên lạc và khi tìm được thì vác trên vai … như trong Matthêô 18:12-14 và Luca 15:3-7
Những người tội lỗi, thu thuế và đỉ điếm… nếu biết sám hối sẽ vào Nước Thiên Chúa trước những người tự cho mình là công chính hay tự hào mình thuộc dòng dõi Abraham như trong Matthêô 21:28-32 hay trong Matthêô 7, 21
Những thợ làm vườn nho cũ bất trung và sát nhân đã bị thay thế bằng dân tộc mới, dân của thời đại Tân Ước như trong Luca 20, 9-19.
Mọi người được kêu gọi vào dự tiệc cưới, được mời gọi chung hưởng hạnh phúc nước trời trong Luca 14,12-24
“Hoang đàng tức bỏ nhà đi. Bỏ nhà đi có nghĩa là bỏ cả Cha Mẹ. Sao trong Phúc Âm chỉ nói đến cha mà không nói đến mẹ? Không lẽ chỉ có Cha mới tỏ lòng nhân hậu mong con hoang trở về? Còn người Mẹ của đứa con hoang thì sao? Chúa không có phái tính nhưng lại hay so sánh với người Cha?
Dụ ngôn thường được định nghĩa là một câu chuyện giả tưởng nhưng lại rất gần với thực tế cuộc sống. Dụ ngôn được dùng để làm cho thính giả hay đọc giả hiểu được dễ dàng những sự thật luân lý hay tôn giáo mà tác giả muốn trình bày.
Người ta đếm được tới 37 dụ ngôn trong Tân Ước được Chúa Giêsu dùng để diễn đạt chân lý đức tin hay luân lý mà Chúa muốn truyển đạt cho dân chúng thời bấy giờ. Phúc âm nói rõ là dân chúng hiểu chúa nhắm ai trong dụ ngôn Chúa kể. Trong dụ ngôn những tá điền bất trung, Mt 21:33-46; Mk 12:1-12; Lk 20:9-19, người Biệt Phái hiểu là Chúa muốn chỉ trích họ.
Dụ ngôn con trai hoang đàng không là chuyện thật. Sự thật mà Chúa muốn trình bày qua dụ ngôn là Thiên Chúa nhân hậu và giàu lòng thương xót. Chúa như Cha Mẹ luôn muốn điều tốt đẹp cho con mình, sẵn sàng tha thứ và trả lại cho con mình những gì đã bị mất mát do lỡ dại đi hoang hay do sa ngã phạm tội. Câu nói “Chúa như Cha Mẹ” không có ý xác định Chúa là cặp vợ chồng có phái tính nam và nữ. Khi Chúa Giêsu dùng dụ ngôn người con trai hoang đàng và người Cha nhân hậu, không có nghĩa là Chúa phớt lờ vai trò của người Mẹ. Nhưng đây là cảnh mà người ta thấy xảy ra trong cuộc sống: Người Cha là chủ gia đình, điều khiển gia đình và có trách nhiệm tạo lập gia sản và phân chia gia sản cho con cái. Đương nhiên có vai trò của người Mẹ, của phụ nữ, nhưng rất mờ nhạt theo phong tục thời bấy giờ. Thí dụ Phúc Âm Marcô 6, 34-44 nói: Chúa hoá bánh ra nhiều nuôi năm ngàn người ăn no, không kể đàn bà và trẻ con.
Người Do Thái thời Chúa Giêsu, sống dưới ách đô hộ của đế quốc La Mã, chắc chắn họ không tránh khỏi ảnh hưởng của văn hoá và tập tục Roma. Người La Mã nỗi tiếng về trật tự xã hội và quyền lãnh đạo. Quyền tối thượng của đế quốc là nơi hoàng đế La Mã. Quyền tối thượng trong mỗi gia đình là nơi người Cha gọi là paterfamilias và người Cha có quyền tề gia, gọi là Patria potestas. Chỉ có người Cha là gương mặt nỗi bật trong mỗi gia đình. Ông có toàn quyền xếp đặt việc học, việc làm, việc cưới hỏi và việc thừa hưởng gia sản cho con cái ông. Vai trò người phụ nữ hoàn mờ nhạt. Phụ nữ thời ấy sống trong âm thầm và tùng phục.
So sánh Chúa như người Cha nhân hậu hay gọi Chúa là Cha như trong Kinh Lạy Cha, hay Chúa Giêsu cầu nguyện trong vườn cây dầu, nói “Xin Cha cất chén đắng nầy xa con…” hay trong cơn hấp hối trên cây Thánh Giá, Chúa thều thào “Cha ơi, sao Cha bỏ con…” Tất cả là Cha chứ không có mẹ. Dù gọi Thiên Chúa Cha là Cha, nhưng Chúa Giêsu không có ý nói Cha mình là đàn ông. Vả lại Thiên Chúa vô hình thì làm sao có phái tính? Chúng ta là những người theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha và dạy chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha. Chúng ta không có cách chọn lựa nào khác. Nên sẽ rất sai lầm khi có người cầu nguyện “Lạy Cha Mẹ chúng con ở trrên trời…” để gọi là bốc thơm phụ nữ trong xã hội Lady First nầy.
Dụ ngôn là chuyện không có thật, nhưng gần với cuộc sống, được dùng để diễn đạt một chân lý tôn giáo có thật. Từ thời đó cho tới nay ai cũng hiểu dụ ngôn người con hoang đàng và người Cha nhân hậu theo lối dùng dụ ngôn của Chúa Giêsu. Nên nếu chúng ta để cập đến phái tính tức phải có cả Cha lẫn mẹ thì sẽ là hình ảnh rất xa lạ với cuộc sống thời ấy. Nếu thế, Phúc Âm sẽ phải nói là: Xin Cha Mẹ chia gia tài cho con…thì sẽ thành chuyện không thể có trong cuộc sống thời đó. Cũng như Chúa phải dùng dụ ngôn con trai hoang đàng chứ không thể có dụ ngôn con gái hoang đàng. Vì không thể có chuyện con gái đi hoang trong xã hội thời bấy giờ.
Ý nghĩa của việc “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi bắt bê béo làm thịt ăn mừng vì…?
“Người Cha đã chia của cải…Ít ngày sau, người con thứ thu xếp tất cả và trảy đi phương xa..”
Người ta thắc mắc và đổ thừa cho người Cha: Biết con trai mình sắp rời khỏi nhà đi hoang, tại sao không cản mà còn chia phần gia tài…người Cha có lỗi trong việc con trai mình đi hoang.
Không đúng!
Phúc âm nhằm trình bày một quyết định đầy tự do của người con trai thứ. Chính anh chọn con đường xa rời nhà Cha mình để đi theo con đường mình hoạch định. Một hành động xấu chỉ thành tội khi chúng ta tự do chọn làm điều xấu. Nên khi người con hoang quay về đã thú tội “con thật đắc tội với Trời và với Cha!”
Khi chọn xa rời nhà cha mình với phần gia sản được chia, người con trai đã chính thức cắt đứt quan hệ phụ tử tình thâm với Cha già và tự khai trừ mình khỏi gia đình. Nên khi quay về, anh ta chỉ mong được làm đầy tớ, tức người không còn phần thừa tự gia sản.
Mặc áo đẹp, xỏ nhẫn vào ngón tay, mang dép mới, giết bê béo ăn mừng… là những cử chỉ không chỉ để chưng diện cho đứa con hoang tã tơi. Giết bê béo ăn mừng không chỉ là bữa tiệc chia vui với xóm giềng. Tất cả là một nghi thức chính thức tái tạo tình phụ tử và quyền thừa kế cho người con đi hoang “Vì con ta đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” Chỉ có con cái trong nhà, nhất là con trai thừa tự mới được mặc áo đẹp, mới được đeo nhẫn… Người Cha phục hồi địa vị làm con cho đứa con hoang “không đáng gọi là con”
Người con cả không chịu vào nhà, vì tính ích kỷ, hẹp hòi… nhưng anh cũng có phần công bằng. Ác giả ác báo! Gieo gió phải gặt bão! Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ. Quan niệm luân lý tự nhiên. Thật bực mình vì anh không thể đo lường được lòng nhân hậu quá lớn của người Cha: Phục hồi quyền làm con, quyền thừa tự một cách quá dễ dàng cho “thằng mất dạy!”, việc làm vượt ngoài ức đoán của đứa con hoang và của tất cả mọi người (đựa vào giải thích của L.M. Hồng Phúc, DCCT trong quyển Suy Niệm Lời Chúa Năm C trang 53-54)
Khi phạm tội là rời bỏ nhà Cha, là chúng ta bỏ Chúa.
Khi phạm tội, con người tự chọn cho mình con đường không có Chúa, mất ân thánh sủng.
Khi phạm tội, con người chối từ phần gia tài dành sẵn cho mình trên Trời.
Khi sám hối và xưng tội:
Quay về nhà Cha
Được hoàn trả mọi ân huệ nhất là quyền làm con và phần thưởng nước thiên đàng.
Cả triều thần thánh vui mừng.
Lòng nhân hậu của Chúa vượt xa mọi ức đoán của con người:
Ôm chầm lấy đứ con hoang.
Không một lời phiền trách hay nhắc đến tội đã phạm.
Không ra một hình phạt nào. Nhưng ban ân huệ, ban sự phục hồi địa vị làm con.
Chúa luôn sẵn sàng tha thứ
III. Thực hành P.Â.:
Lòng nhân ái và tình thương tha thứ có sức chinh phục người khác.
Tại sao người con hoang quay về với Cha già?
Vì đói khát, đau khổ, bất hạnh…hay vì lòng nhân hậu vô bờ bến của người Cha.
Đến Roma, đứng ở quảng trường Thánh Phêrô đối diện với đến thờ, chúng ta thấy gần bên tay phải khoảng giữa giữa có một viên gạch vuông khác màu so với những đá lót khác. Người ta đánh dấu nơi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bị Ahmed Ali Agca bắn trọng thương ngày 13.5.1981. Viên đạn quyết tử, nhắm tim, nhưng Ali tránh đứa bé gái mà ĐGH vừa bế lên, nên Ngài còn sống. Viên đạn đó đã được mang đặt ở nhà chầu, trước Vương Cung Thánh Đường Fatima, bên cây sối to, nơi Đức Mẹ hiện ra cho 3 trẻ: Lucia, Jacinta và Phanxicô năm 1917. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã vào tận nhà tù của thăm Ali. Ngài hoàn toàn tha thứ. Ali bị cảm hoá bời lòng nhân hậu của Đức Giáo Hoàng. Hay tin Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô mất ngày mất 2 tháng 4 năm 2005, anh đã xin đi dự lễ an táng Ngài.
Đơn xin không được chấp thuận, nhưng lòng anh đã khắc sâu hình ảnh con người nhân hậu đã sẵn sàng tha thứ cho người ám sát mình. Lòng nhân hậu được ghi nhớ muôn đời.
Tháng 2 năm 2000, ĐGH Gioan Phaolô II đi hành hương thánh địa Do Thái. Một người đàn bà Do Thái tên Edith Wier đã đến xin diện kiến Đức Thánh Cha và tường thuật cho cả thế giới về lòng nhân hậu của một linh mục trẻ, tên Karol Voitija,
Gần 50 mươi năm trước, bà còn là một thiếu nữ trẻ vừa được thả khỏi trại giam của Đức Quốc Xã trên đất Ba Lan gần giáo xứ của Cha Karol Voitija. Bị giam lâu ngày, khi được thả ra, bà đói lã ngã gục trên đường rời trại. Bỗng có một linh mục trẻ, tướng cao và đẹp trai xuát hiện. Linh mục mang cho cô bé nầy bánh, nước và khăn lau. Sau đó vị linh mục đã cõng cô bé gái trên lưng, vượt hơn 3 cây số đến trạm xe lửa để cô ta có thể trở vế nguyên quán. Gần cả đời mình, bà Edith vẫn nhớ hình ảnh giàu lòng thương xót và từ tâm của linh mục Karol. Bà đã được gặp lại vị ân nhân từ tâm. Bà đã toại nguyện khi được ca ngợi lòng nhân hậu của Đức Thánh Cha cho cả thế giới biết.
Lòng nhân hậu và tình yêu thương tha thứ là lời kêu gọi mạnh nhất để hoán cải, để quay về nhà Cha. Chúng ta quên nhiều chuyện, nhưng thường chúng ta khó quên những ánh mắt nhân hậu, những con người giàu lòng thương xót và từ tâm. Hay quay lại với Chúa là Đấng nhân hậu và hãy làm cho người khác nhớ đến mình vì mình nhân hậu và từ tâm.
Ngày 11.3.2013 Thứ Hai sau Chúa Nhật IV Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Isaia 65:17-21 Chúa tạo dựng Trời mới, Đất mới trong đó tràn niềm vui và tiếng cười. Phúc Âm: Gioan 4:43-54 Chúa chữa lành bệnh con trai một quan chức chính quyền mà không cần đến gặp con bệnh “Cứ về đi, con ông sẽ sống!” Suy tư
“Bỏ Ngài còn biết theo ai! Vì Ngài có lời ban sự sống!” Chúa có lời hằng sống và lời Chúa ban sự sống.
Nhiều lần tôi tập phát âm một từ tiếng Anh muốn méo miệng và được người nghe khuyến khích “very close”. Tôi vẫn biết là “very far stil”, nhưng người khác muốn giúp tôi. Thường ai học tiếng Anh cũng được khen “your English is very good”, mặc dù người nghe mình nói tiếng Anh chả hiểu gì. Không quan trọng! Khuyến khích quan trọng hơn để người học tiếp tục cố gắng.
Học nhạc ở Suối Nhạc, Ngã Sáu Sàigòn. Người dạy cũng từng sống nhiều năm ở ngoại quốc để học nhạc và học kiểu khuyến khích của người Tây Phương, nhưng không thấy áp dụng ở Việt Nam chút nào “Anh nên chọn môn khác mà học!” hay “bài hoà âm của anh không đáng lấy một diểm!” Những lời nầy thật vô ích cho người học và người nói.
Khi còn ở Đại Chủng Viện Xuân Bích Vĩnh Long, chúng tôi giành nhau xưng tội với Cha Dieudonné Bourguignon. Xưng tội xong, Ngài luôn bảo “tốt lắm!” Ngài giải thích: không có tội nào tốt cả, nhưng đi xưng tội là việc rất tốt. Lời Cha đơn giản, chính xác và đầy khuyến khích.
Miền Bắc Việt Nam, đặc biệt Hà Nội được mệnh danh là nôi văn hiến của Việt Nam. Nhiều người có học, ăn nói trôi chảy và văn chương thi phú thật hay. Nhưng nhiều người mang bệnh nói nhiều, dùng nhiều từ thật kêu nhưng thật rỗng và thiếu trung thực. Hay phải nói nhiều vì “người làm thì đói, người nói thì no!”
Không cần nói thao thao bất tuyệt hay văn chương lưu loát, nhưng cần nói sự thật, nói lời khuyến khích và xây dựng, lời mang ơn giải thoát và sự sống. Có một anh em hay bắt đầu câu chuyện bằng câu “thật lòng mà nói!” … Nhưng ai cũng biết tại sao người ấy hay nhấn mạnh “thật lòng mà nói!” vì lòng người an hem ấy nhiều khi không thật chút nào. Nói thật tạo uy tín và tạo sức thu hút. Xìn đừng bao giờ nói điều không thật với những trẻ em sinh ra và lớn lên bên nầy. Trẻ em bên nầy không phải là thánh nhưng chúng nói và sống thật.
Ngày 12.3. 2013 Thứ Ba sau Chúa Nhật IV Mùa Chay
Lời Chúa Bài dọc I: Tiên Tri Edêkiên 47:1-9, 12 Trong một thị kiến, Edêkiên thấy thiên thần Chúa dẫn mình đến cổng đền thờ và nước tràn lan, nước tới đâu, sức sống bừng lên. Phúc Âm: Gioan 5:1-16 Ở cổng Cừu và bên ao Bétzata, nhiều bệnh nhân nằm chờ nước động kịp xuống trầm mình chữa bệnh. Chúa chữa một người đàn ông bệnh liệt 38 năm. Và bảo “ đứng lên, vác chiếu mà về!” Suy tư Nếu đã được chữa khỏi bệnh, mừng chết đi được, bệnh nhân đi ngay về nhà bỏ cả chiếu nằm. Sao Chúa lại bảo “đứng lên, vác chiếu đi về!” Đây không là lần duy nhất, sau khi chữa người bị liệt do bốn người khiêng thòng xuống từ mái nhà, chúa cũng bảo “đứng lên, vác chiếu đi về!” Vẫn xoay trong chủ đề: Chúa Giêsu là Lời hằng sống, lời đầy quyền lực trên tà thần, lời ban sự sống ban ơn chữa lành. Nghe nói lại rằng có một lãnh tụ một cường quốc Cộng Sản đã quyết tâm không quỳ xuống hôn nhẫn khi bệ kiến Giáo Hoàng Phaolô VI. Nhưng khi gặp Ngài, vị lãnh tụ đã sụm xuống cả hai gối và cung kính hơn bất cứ ai. Người lãnh đạo Giáo Hội luôn có Chúa, có thần quyền, nhiều khi toả lộ ra bên ngoài làm người khác nễ sợ và bị thất thần. Dự ngày giới trẻ thế giới ở Torontô, Canada tháng bảy năm 2002 tôi nhìn thấy thần quyền nơi Đức Gioan Phaolô II thật rõ. Một cụ già 83 tuổi lúc đó, ăn nói tiếng được tiếng mất, lại còn run tay, yếu chân mà được cả triệu bạn trẻ hoan hô, la hò khắp thành phố Toronto “John Paul Two! We love you too!” Ngài vừa rồi khỏi ghế ngồi, đám trẻ giành nhau bám và hôn chiếc ghế đó. “Đứng lên! Vác chiếu về!” bộc lộ một lệnh truyền đầy thần quyền. Đứng lên, đi về chưa đủ phải “vác” cái gì đó để nói lên sự chữa lành và bình phục thực sự, người được chữa lành bệnh có nghĩa là được truyền thông sức mạnh thần thiên qua hành động mang, vác hay gánh.
Ngày 13.3.2013 Thứ Tư sau Chúa Nhật IV Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Isaia 49:8-15 Lòng nhân hậu của Chúa vô bờ, Ngài không bao giờ bỏ rơi con dân Ngài như người Mẹ không bao giờ quên con thơ. Phúc Âm: Gioan 5:16-30 Chúa Giêsu xác nhận về thiên tính của Ngài: Thiên Chúa Cha làm việc, Ngài cũng làm việc. Ngài bắt chước việc làm đã thấy Thiên Chúa Cha làm ….Ngài nhận được sự sống bất diệt từ Cha và Ngài truyền ban sự sống đó cho những kẻ tin. Suy tư Tốn mất ít là 1giờ 30 phút để tập đám cưới cho người Canada: đi đứng, thắp nến, khi nào đọc sách thánh và đọc như thế nào… Lý do: không đi nhà thờ hay ít đi nhà thờ hay có đi nhà thờ nhưng chả quan tâm để ý gì cả. Họ không biết bắt chước người khác. Cả những chuyện thật nhỏ họ cũng cần một khoá training hay workshop như cách thức rước lễ bằng tay, bằng lưỡi hay đọc sách thánh hay làm người tiếp đón người khác nơi tiền đường nhà thờ. Các em giúp lại càng lượm thuộm hơn: không biết xử dụng quẹt gas hay không sao biết lúc nào rung chuông. Lớn lên trong hoàn cảnh thuận lợi, dư thừa, con người được nuông chìu thái quá, kém bén nhạy, tháo vát. Tôi đã giảng cho giáo dân Canada của tôi rằng: tôi không bao giờ dự khoá học cầm đũa ăn cơm, tôi không cần học làm dấu thánh giá, tôi cũng không cần học thắp nến nhà thờ. Tôi quan sát và tôi bắt chước làm theo. Chúa Giêsu học làm việc nơi Đức Chúa Cha. Chúa Giêsu bắt chước những gì Đức Chúa Cha làm. Chúa Giêsu thông hiệp và hoà nhập với thiên tính của Đức Chúa Cha. Chúa như Thiên Chúa, là Thiên Chúa và đồng bản tính với Thiên Chúa.
Những ai quen có lối sống tập thể trong chủng viện hay dòng tu, sẽ thấy là học được rất nhiều nơi người khác. Chủng sinh thường biết hát xướng, đánh đàn hay trang trí…Tất cả do học hỏi lẫn nhau. Cùng có nhân tính và nhân phẩm như nhau, nhưng đôi khi chúng ta không chịu bắt chước hay học được cái hay, cái tốt nơi người khác. Muốn bắt chước và làm được như người khác, phải gần gũi, tới lui và quan sát. Nhiều người thật lắm tài và lắm cái hay. Khiêm tốn và kiên nhẫn chúng ta sẽ bắt chước làm được như họ và đôi khi còn hơn họ nữa. Ngày 14.3.2013 Thứ Năm sau Chúa Nhật IV Mùa Chay Lời Chúa Bài đọc I: Xuất hành 32:7-14 Chúa giận định phạt dân cứng cổ thờ bò vàng. Môsê năn nỉ, Chúa đỗi ý. Phúc Âm: Gioan 5:18, 31-47 Người Do Thái tìm cách giết Chúa. Chúa minh xác rằng bản thân Chúa và mọi việc Chúa làm đều được Thiên Chúa Cha làm chứng. Người không tin Chúa bị chính Môsê luận án vì tổ phụ nầy đã thấy Chúa và tin Chúa. Suy tư Trong Kinh Thánh Cựu ước Chúa được diễn tả với đầy đủ nhân tính và cả hỉ nộ ái ố: Chúa giận, Chúa ganh tị, Chúa thay đổi lập trường lia chia. Một phần những bản văn trong Kinh Thánh Cựu Ước, đặc biệt những mẫu chuyện về sáng tạo hay về sự lành dữ, ác xấu trong nhân gian không phải là những mẫu chuyện độc nhất vô nhị chỉ có trong Kinh Thánh, nhưng đã có trong dân gian, trong những thể văn thần thoại của lân bang. Kinh Thánh cũng không là kiểu ghi biên bản một cuộc họp hay kiểu Chúa đọc và tác giả ghi. Chúa đâu có nói bao giờ và quyển Kinh Thánh thành hình rất lâu sau những chuyện được kể. Như vậy kinh Thánh là một mạc khải thần linh được lồng trong đời sống dân gian. Một kiểu thần linh xuống trần. Nên thần được trần gian mặc cho những gì hoàn toàn con người. Cái cố gắng của Kinh Thánh là đem Chúa gần người và mang người gần Chúa, muốn tạo lập một quan hệ Cha-con. Chúa trong Kinh Thánh Cựu Ước gần như một Ong Bố trong gia đình: tình thương dạt dào nhưng có lúc nóng, lúc giận hờn, rồi có lúc được năn nỉ lại quên và xí xoá mọi chuyện. Chúa thật đáng yêu trong cách trình bày của Cựu Ước. Chúa Giêsu dạy Chúng ta gọi Chúa là Cha. Cha nào cũng thương con, cũng cho con mình cái chúng yêu cầu. Cha nào cũng có lúc cứng rắn và áp dụng kỷ luật, nhưng quảng đại thứ tha. Tôi chưa có cảm tình được với một anh cảnh sát hay công an nào. Cái khó ưa của họ là rình rập, dòm ngó để bắt lỗi và phạt. Nhiều khi chúng ta quan niệm Chúa như một viên cảnh sát giao thông hay một an ninh khu vực, chờ con cái có tội thì phạt sa hoả ngục. Không, Chúa là Cha, là Bố chúng ta, rất cận thân và rất đáng yêu. Từ kinh nghiệm đó, chúng ta đừng nên trở thành cảnh sát hay công an của nhau. Tránh dòm ngó, rình rập hay tò mò chất vấn. Tránh những cái nhìn đăm đăm muốn tỏ ra có bản lãnh và uy quyền. Chẳng ai sợ ai hay “làm gì được nhau!” trong những xứ sở nhiều tự do cá nhân và dân chủ nầy. Nụ cười nhân hậu trên môi làm người khác dễ mến và dễ nhớ.
Ngày 15.3.2005 Thứ Sáu sau Chúa Nhật IV Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Sách khôn ngoan 2:1, 12-22 Người vô đạo không tin Chúa tìm cách hại người công chính. Phúc Âm: Gioan 7:1-2, 10, 25-30 Biết thủ lãnh Do Thái đang tìm cách bắt mình, Chúa tránh xuất hiện công khai, nhưng vẫn tiếp tục xác minh về xuất xứ của mình: người được Thiên Chúa sai xuống trần. Suy tư Hiện tại, du khách đến Mỹ không thoải mái vì hàng rào an ninh ở các phi trường. Hình ảnh được chứng minh, hành lý phải qua máy rọi, thắt lưng, giày dép, bóp ví đều được kiểm soát. Du khách phải chứng minh lý lịch để nhân viên an ninh tin mình không là khủng bố và sau đó thoải mái vào Mỹ. Hợp lý! Chứng minh được là người tốt và được nhìn nhận. Chúa cố chứng minh lý lịch của mình là Con TC. Nhưng người Do Thái từ chối, vì họ đã có âm mưu diệt Chúa. Điều nầy thật rõ trong phiên toà tôn giáo đêm Thứ Năm, khi thượng tế Caipha xé toạt áo và tuyên bố “Cần gì chứng cớ! Nhận làm Con Ông Trời thì đủ chết rồi!” Âm mưu thường được hiểu là một ý đồ xầu được giấu chìm dưới những hình thức khá khá đẹp như kiểm tra, tự vấn hay kiểm điểm, kiểm thảo. Người Việt Nam có kinh nghiệm đau thương về những cung khai lý lịch ba đời để được nhận làm cán bộ, công nhân viên chính phủ sau năm 1975. Nhiều lý lịch thật minh bạch, thật tốt, nhưng vẫn bị chối từ và ghép vào phần tử xấu. Vì đương sự đã được kết án là xấu trước khi khai lý lịch. Công tâm (nếu có lương tâm) mà nói đó là một hình thức trù dập, bất công, tạo thêm nhiều thù, ít bạn. Âm mưu hại người khác hay khai trừ người khác thường phát xuất từ lòng tham quyền chức và sợ mất ảnh hưởng. Làm linh mục, chúng ta thích và muốn lưu nhiệm những thành viên Hội Đồng Mục Vụ biết làm theo sở thích mình hay những ai biết điều với mình. Chúng ta cũng muốn dẹp hay tỏ ra bất cần với những thành viên không biết “dạ, vâng!” hay còn làm ngược lại ý mình, dù họ năng nổ, có khả năng phục vụ. Linh mục vẫn là con người mà!
Mỗi địa phận đều có cẩm nang mục vụ áp dụng đồng đều cho các giáo xứ. Cách hay là chúng ta nên theo để giữ công tâm và tránh được những xét đoán chủ quan do bản tính con người yếu hèn. Hãy tự vấn trước khi ngã lưng nằm nghỉ: Hôm nay tôi đã làm được gì mang ích cho người khác. Mang ích lợi cho người khác, cho tôi giấc ngủ an bình, vì có Chúa. Âm mưu hại người gây trằn trọc, trăn trở và bất an, vì thiếu vắng Thiên Chúa tình thương.
Ngày 16.3.2013 Thứ Bảy sau Chúa Nhật IV Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Giêrêmia 11:18-20 Giêrêmia bị ngược đãi. Ông kêu cầu Chúa. Chúa Giêsu, một tiên tri cũng sẽ bị ngược đãi. Phúc Âm: Gioan 7:40-53 Dân chúng bị phân rẽ trước những lời giảng của Chúa. Cả trong nhóm Biệt Phái cũng không đồng nhất với ý kiến triệt hạ Chúa. Nicôdêmô cố gắng thuyết phục đồng môn, nhưng thất bại. Suy tư Có học tức có hiểu biết và cũng có ý kiến. Bạo Chúa Tần thủy Hoàng đốt sách, chôn học trò. Dân ngu dễ trị! Không chấp nhận có ý kiến ngược lại. Pon Pốt của Campuchia chủ trương chính sách phi văn hoá diệt chủng: không sách vở, không truyền hình, không máy móc. Nhiều trí thức, nhiều hiểu biết, nhiều lộn xộn khó cai trị. Sadam Hussein bắn chết con rễ mình vì không đồng ý với Ông trong âm mưu tiêu diệt một sắc dân trong Iraq. Những hành động độc tài thường dẫn đến bi đát và tủi nhục. Nicôdêmô thật cần thiết trong cuộc sống linh mục coi sóc giáo xứ. Không phải luôn luôn, nhưng thường người dám nêu lên ý kiến đối nghịch là người có hiểu biết, có suy nghĩ và thương chúng ta, muốn xây dựng cộng đoàn. Người chưa nói xong đã “dạ, vâng ạ!” thường được chúng ta thích và tin, nhưng chắc gì họ thương chúng ta thật sự. Coi chừng họ đang lùng tìm một hư danh nào đó qua thái độ “nịnh thần” nầy. Chúng ta thật cần những Nicôđêmô để dám nói lên một lời công đạo. Nhiều khi chúng ta cũng phải là một Nicôđêmô trong cuộc sống khi cần có ý kiến với Giám Mục hay vị hữu trách cho một ích lợi chung. Chúng ta thường im lặng tự nhủ: Nói làm gì vô ích, có ai nghe đâu mà nói làm mất cảm tình. Nghe hay không nghe, quyền của người được xây dựng. Chúng ta làm trọn bổn phận và sẽ nhận được phần thưởng an bình sau khi đã góp ý.
Những anh chị em tình nguyện làm thành viên Hội Đồng Mục Vụ cũng nên có góp ý sửa sai xây dựng. Chúa dựng nên con người có lý trí có suy nghĩ và hiểu biết. Nếu chỉ biết im lặng vâng phục để duy trì chức vụ là phụ lòng Chúa thương. Chỉ biết im lặng vâng phục sẽ làm giảm phẩm giá con người. Biệt Phái đã gạt phăng ý kiến của Nicôđêmô và tiếp tục thực hiện mưu đồ giết Chúa. Nicôđêmô vẫn tiếp tục tìm đến Chúa, dù âm thầm ban đêm, vẫn đóng góp trong việc táng xác Chúa. Nicôđêmô thành công. Người chối bỏ ý kiến của Ông bị thất bại: Cho đến muôn ngàn đời, thủ lãnh Do Thái vẫn bị kết án cố tình giết Chúa. Đúng! Có người can ngăn mà vẫn làm là cố tình. Có âm mưu trù tính hẵn hoi thì làm sao không cố tình? Muốn nghe bài giảng Giáo Lý Phúc Âm Chúa Nhật, xin vào Website: liengiaositusi.com - Phần Giáo Lý
Giáo Lý Phúc Âm - CHÚA NHẬT V MÙA CHAY NĂM C - ngày 17.3.2013
Sách Tiên Tri Isaia 43, 16-21; Thư Thánh Phaolô gửi Giáo đoàn Philipphê 3,8-14
và Phúc Âm Gioan 8, 1-11
I. Giáo Huấn P.Â.:
Tội lỗi, thực tại gắn liền với đời sống con người. “Tôi đã mang tội, ngay khi còn trong lòng mẹ” (Thánh vịnh 51,7) Hay như trong bài Phúc Âm hôm nay “Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi!”
Hoán cải, từ bỏ tội lỗi quay về với Chúa. Điều tất yếu con người phải làm. Điều mà Chúa Giêsu được sai đến để thực hiện như được khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay “Tôi không lên án chị đâu! Về đi và từ nay đừng phạm tội nữa!”
Cứu độ, được cứu sống, được sống hạnh phúc trong Nhà Cha mình, trong nước Thiên Chúa. Đây là cứu cánh của đời người. Cứu độ là lý do Chúa đến trần gian. Chúa là Đấng cứu thế, đấng cứu người tội lỗi biết sám hối. “Vì Thiên Chúa không sai con của Người đến luận phạt trần gian, nhưng để nhờ Con của Người mà tất cả được cứu độ” (Gioan 3:17) hay “Ta đến để chúng được sống và sống dồi dào!” (Gioan 10,10)
Con người tội lỗi luôn được kêu gọi hoán cải để nhận lấy tình thương cứư độ của Thiên Chúa.
II. Vấn nạn P.Â.
“Sao lại đọc Phúc Âm Thánh Gioan trong Chúa Nhật Thứ Năm Mùa Chay trong chu kỳ Phụng Vụ Năm C như hôm nay?
Có bốn Phúc Âm: Matthêô, Matcô, Luca và Gioan.
Phụng Vụ chia thành chu kỳ ba năm:
Năm A, xử dụng Phúc Âm Matthêô.
Năm B, xử dụng Phúc Âm Matcô.
Năm C, xử dụng Phúc Âm Luca như chúng ta thấy từ đầu năm Phụng Vụ, tức từ Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng năm nay.
Phúc Âm Thánh Gioan thành hình sau cùng khoảng năm 90. Đây là một Phúc Âm trình bày đầy đủ các chiều kích cao sâu của thần học Tân Ước. Như chim phượng hoàng rộng cánh bay xa được dùng tượng trưng cho những suy tư bác học của tác giả, Thánh Gioan tông đồ.
Câu chuyện người Phụ Nữ Ngoại tình chỉ có trong Phúc Âm Thánh Gioan. Không có trong tường thuật của các Phúc Âm Nhất Lãm.
Cũng không có trong Phúc Âm Gioan nơi những bản viết tay bằng tiếng Hy Lạp thời cỗ. Chỉ có trong Phúc Âm Gioan, nhưng trong bản dịch bằng tiếng la Tinh được chen vào sau chương 7, 36 (Giải thích theo The New AMERICAN Bible trang 1149)
Lý do để Phụng Vụ Chúa Nhật V Mùa Chay Năm C xử dụng Phúc Âm Thánh Gioan mô tả người phụ nữ ngoại tình hôm nay: Tiếp nối và hoàn tất chủ để tội lỗi - hoán cải và cứu độ.
Chủ đề Mùa Chay.
Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay: Chúa ăn chay, cầu nguyện và bị cám dỗ trong hoang địa. Cám dỗ không từ ai! Ai cũng có thể phạm tội.
Chúa Nhật Thứ Hai Mùa Chay: Chúa biến hình trên núi Tabor. Sự dữ và tội lỗi hoành hành xem chừng chiến thắng. Đấng cứu thế bị giết chết. Nhưng chính lúc chết là lúc Chúa cứu sống nhân loại. Sự dữ và tội lỗi bị tiêu diệt.
Chúa Nhật Thừ Ba Mùa Chay: Chúa không dùng hình phạt để trừng trị tội nhân. Nhưng qua những thiên tai hay tai nạn, tội nhân cần phải sám hối để nhận ơn cứu độ.
Chúa Nhật Thứ Tư Mùa chay: Dụ ngôn con trai hoang đàng và người Cha nhân hậu. Chúa luôn chờ đợi người tội lỗi hoán cải như người Cha luôn sẵn sàng đón nhận lại đứa con đi hoang.
Hôm nay, Chúa Nhật V Mùa Chay: Tuần cuối trước khi vào Phụng Vụ Tuần thương khó với Chúa Nhật Lễ Lá. Không còn là dụ ngôn nữa, nhưng là chuyện thật: chuyện người phụ nữ ngoại tình được tha chết. Tội lỗi, chuyện thật đời người xảy ra luôn như đã xảy ra cho người phụ nữ ngoại tình. Hoán cải, điều tội nhân nhất thiết phải làm. Nhận ơn tha tội và cứu độ, là chương trình của Chúa dành cho con người. Sinh ra có tội, nhưng luôn được kêu gọi hoán cải để được hưởng phần thưởng gia sản nước trời.
“Tại sao Chúa Giêsu không tán thành chuyện ném đá trừng phạt người phụ nữ goại tình theo như luật Môsê định?
Vì Luật sĩ và Biệt Phái bóp méo Luật Môsê:
Cả trong hai sách: Lêvi 20,10 và trong sách Đệ Nhị Luật 22,22 đều cho phép ném đá chết cả hai, tức cả đàn ông và đàn bà bị bắt phạm tội ngoại tình với nhau.
Trong Phúc Âm hôm nay, Biệt Phái và luật sĩ “dẫn đến trước mặt Chúa Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình” Không thể đồng ý cho ném đá chết chỉ một người.
Không có gì chắc chắn, nhưng biết đâu chừng trong đám luật sĩ và Biệt Phái tố cáo người hôm nay lại có người đã từng tằng tịu với chị ta? Why not? Vì họ đã nhiều lần bị Chúa tố cáo là giả hình. Giả hình tức giả bộ đạo đức đang khi đó làm nhiều chuyện bĩ ổi. Tiếng Việt chúng ta thường gọi là ‘ngậm máu phun người’ hay là hạng người ‘khẩu phật tâm sà!’, miệng niệm Phật Nam Mô mà tâm hồn toan tính toàn điều bất chính.
Vì tránh âm mưu của Biệt Phái và Luật Sĩ.
Dưới thời bị La Mã đô hộ, Do Thái bị tước mất quyền tài phán, không được quyền quyết định giết chết người khác nều không có quyết định của tổng trấn.
Thấy rõ điều nầy trong vụ án Chúa Giêsu: Biệt Phái và Luật Sĩ đã bắt Chúa vào tối Thứ Năm, kết án Chúa trước Toà Án Tôn giáo Caipha ngay đêm đó, nhưng vẫn không dám giết Chúa, phải chờ sáng sớm Thứ Sáu mới mang Chúa sang dinh Tổng Trấn Philatô để xin án xử từ Chúa. Để được bản án tử hình cho Chúa, họ đã phải cật lực la hét là “tha cho Baraba và đóng đinh nó vào thập giá!” và “Hắn là tên phản loạn chống hoàng đế La Mã!”
Hôm nay cũng vậy, Biệt Phái và luật sĩ mang người phụ nữ ngoại tình đến trước Chúa để gải bẩy bắt Chúa: Nếu Chúa tha người Phụ nữ, có nghĩa Chúa theo La Mã và chống lại luật tôn giáo Do Thái tức luật Môsê. Nếu Chúa đồng ý cho ném đá người phụ nữ ngoại tình, Chúa thành người bất nhân và người chống lại đế quốc la mã: Kết án tử mà chưa có lệnh của tổng trấn. Chuyện âm mưu giăng bẫy hại người nầy đã được thực hiện khi có lần họ hỏi: có nên nộp thuế cho Cêsar, hoàng đế La Mã hay không như đã được trình bày trong Matthêô 22:15-22 và trong Luca 20:19-26
Nếu có chủ quyền, Biệt Phái và Luật sĩ đã mang Chúa đi hành hình không cần vào dinh tổng trấn Do Thái. Cũng vậy, nếu có chủ quyền, Biệt Phái và Luật Sĩ đã ném đá người phụ nữ ngoại tình chết tại chỗ chứ cần gì đợi tới sự phán quyết của Chúa.
Vì đi ngược Sứ mệnh cứu thế của Chúa:
Chúa dến để cứu độ chứ không phải để luật phạt hay giết chết. Cả trong Gioan 3,17 và Luca 19,10 đều khẳng định “Thiên Chúa sai Con của Ngài đến không phải để luận phạt nhưng để cứu độ trần gian” Hay trong Matthêô 20,28 “Con Người đến khống phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc cho nhiều người!”
Hơn nữa thử hỏi xem: Chúa được gì, xã hội được gì và người đàn bà tội lỗi được gì nếu bị ném đá chết hôm nay?
Chúa mất! Mất đứa con hoang đàng tội lỗi mà Chúa đang chờ hoán cải. Chúa mất cơ hội đi tìm chiên lạc để chăm sóc, để chữa lành bệnh tật và qui tụ về cùng một đàn chiên và một chủ chiên như trong Thánh Vịnh 23 mô tả.
Xã hội mất! Mất một con người mà nếu cải tà qui chánh sẽ mang ích lợi cho xã hội. Giết người, mang thêm đau buồn và gây hận thù cho thân nhân gia đình nạn nhân.
Tội nhân mất! Mất cơ hội sám hối và mất sự sống. Vô ích!
Nếu sứ mạng của Chúa Cứu Thế là hoán cải người tội lỗi và ban ơn cứu độ. Vậy sao còn có hoả ngục để phạt kẻ dữ?
Kinh Thánh mô tả về sự thật hoả ngục:
Phúc Âm Thánh Luca chương 16 mô tả về sự khốn cùng của Ông phú hộ trong hoả ngục: bị lửa đốt, khổ sở cùng cực và hoả ngục là nơi để đọa đầy và hành hạ.
Phúc Âm Thánh Matthêô 13, 42 diễn tả hoả ngục như lò lửa, nơi than khóc và nghiến răng.
Trong sách Khải Huyền 20,15 diễn tả hoả ngục là một hồ toàn lửa đỏ.
Như vậy, thật sự có hoả ngục.
Hoả ngục dành cho ai? Dành cho Satan và đồng bọn như được diễn tả trong ngày chung thẩm theo Phúc Âm Matthêô 25, 41 tường thuật.
Tại sao Hoả Ngục lại dành cho Satan và đồng bọn? Kinh Thánh mô tả Satan nguyên là thiên thần của Thiên Chúa, nhưng đã nỗi loạn chống lại Chúa và bị dày xuống hoả ngục. Sách tiên tri Egiêkiên 28:15 nói: Satan muốn làm Chúa. Trong thư Thứ Hai của Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Corintô nói: Satan đã trở thành chúa của nhân loại tội lỗi. Trong Sách Khải Huyền của Thánh Gioan Tông Đồ 20,10 nói là Satan bị phạt đời đời.
Ai là đồng bọn của Satan? Những ai phạm tội và cố tình duy trì tình trạng tội lỗi, không sám hối quay về với Chúa và chấp nhận hoả ngục như nơi mình đến.
Khi chúng ta phạm tội là chúng ta nghe theo sự cám dỗ của Satan. Khi chúng ta phạm tội là đứng về phe thần dữ chống lại Thiên Chúa.
Phải mạnh mẽ chống lại cám dỗ của Satan như Chúa Giêsu trong hoang địa.
Phải hoán cải, hồi tâm hối lỗi và thoát khỏi bong tối tội lỗi quay về nhà Cha như người con hoang đàng trong Phúc Âm.
Hậu quả của nguyên tội là khuynh hướng thích phạm tội nơi chúng ta. Nói cách khác, nơi chúng ta có mầm phản loạn chống lại Thiên Chúa và dễ theo phe Satan. Vì những khuynh hướng đi xuống nầy mà Chúa Giêsu phải xuống thế làm người như chúng ta để kéo chúng ta về Trời Cao như Phúc Âm Thánh Gioan 12,32 “Khi Ta được treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta”.
Nên Giáo Lý Công Giáo dạy: Khi lỡ sa phạm tội thì phải xưng tội càng sớm càng tốt, nghĩa là cố gắng thoát khỏi tình trạng “đồng bọn với Satan” Nếu không gặp được linh mục để xưng tội thì phải ăn năn tội cách trọn.
III. Thực hành P.Â.:
1. Kitô hữu là những Chúa Kitô khác, tức là những người cứu nhân độ thế
Những ai lãnh nhận bí tích rửa tội thì được gọi là Christifideles tức những Christian faithful, những người tin vào Chúa Kitô và được tháp nhập vào thân thể mầu nhiện của Chúa kitô, và thành sứ giả mang ơn cứu độ đến cho mọi dân nước. “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy, vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ, dạy họ tuân giữ những gì Thầy truyền cho các con và…Thầy nở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Matthêô 28, 16-20)
Từ Đức Giáo Hoàng trở xuống, có chung một tên gọi là Kitô hữu: Người tin Chúa và tiếp nối sứ mệnh cứu rỗi của Chúa. Nên chúng ta được phải cứu người chớ đừng bao giờ hại người.
Nên tránh mọi chuyện trù ẽo hay nguyền rũa người khác. Nhưng phải cầu nguyện cho kẻ làm hại chúng ta như trong Matthêô 5, 43-44. Nếu cầu nguyện cho kẻ làm hại chúng ta, chúng ta là người chiến thắng: thắng chính mình và thắng được kẻ ghét mình. Người ta có thể ghét hết mọi người trừ người thương mình.
Tôi không thích coi phim kiếm hiệp của Hồng Kông, đó là những thiên truyện trả thù liên tục, từ đời nầy sang đời nọ: Cha mình bị giết chết – Hiếu tử lên núi tìm thầy học võ – Hạ san tìm giết kẻ thù – Con kẻ thù thành nạn nhân, lại tìm thầy học võ – Hạ san tìm giết kẻ thù. Vòng lẫn quẫn không lối thoát, rất tiêu cực và ấu trĩ.
Hồng Kông, một hải đảo nhỏ rộng chừng 16 ngàn Kilô mét vuông với dân số khoảng một triệu ba trăm ngàn. Đất nhỏ, dân đông, nên họ chú trọng nhiều đến phim ảnh tưởng tượng loại kiếm hiệp và các thứ kiếm tiền khác như sòng bạc hay mãi dâm. Những kiểu làm ăn không tốn nhiều chỗ mà lại thoả mãn được tính nhỏ nhặt tiểu nhân của con người.
Khi làm hại người khác là chúng ta bị thua thiệt: thua tính tiểu nhân hẹp hòi của mình và làm hại chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Người bị hại hay bị trả thù làm sao thấy được lòng thương xót Chúa nơi chúng ta là một Kitô hữu. Nhưng nếu chúng ta mang ích cho người khác hay cứu được người khác, chúng ta sẽ là người chiến thắng. Vì chúng ta thể hiện được sứ mạng cứu nhân độ thế mà chúng ta đã lãnh nhận khi chịu phép rửa tội. Xin tìm đọc hạnh Cha Thánh Maximilian Kolbe, dòng Phanxicô sinh năm 1894. Năm 1941, thế mạng để cứu bạn tù Francis. Được tuyên thánh ngày 10.10.1982 và lễ nhớ ngày 14 tháng 8 hàng năm.
2. “Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi”
Biệt Phái và Luật Sĩ mang tiếng giả hình và có ác ý hại người. Nhưng dù sao trong vụ án người phụ nữ ngoại tình hôm nay, lương tâm họ vẫn còn tốt và bị thừc tĩnh do Lời Chúa “Ai trong các Ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi!” Những người hiện diện chờ ném đá, quăng bỏ đá đang có trong tay và âm thầm rút lui.
Nếu vụ án nầy xảy ra hôm nay, trong giáo xứ của chúng ta, chúng ta có dám để lương tâm mình bị đánh thức, quăng bỏ hòn đá cuội đang định giơ cao tay ném chết người và âm thầm rút lui không? Hay chúng ta phải ném đá giết người để chứng tỏ mình vô tội và trừng trị đích đáng tội phạm theo lẽ công bằng?
Trong cuộc sống thường ngày nhiều khi chúng ta dễ mất tự chủ và để cho máu mình xông lên vì một cá nhân nào đó bị cho là gây bất công hay phạm những sai sót không thể tha thứ được. Chúng ta thấy mình có bổn phận phải lên tiếng chỉ trích, nặng lời thoá mạ, và sẵn sàng làm tổn thương những đối tượng nầy để gọi là bệnh vực lẽ phải, giống như người Biệt Phái bênh vực lề luật Môsê.
Tốt hơn chúng ta nên hỏi: tại sao người đàn bà nầy ngoại tình? Tại sao và hoàn cảnh nào đưa đẩy con người nầy đến hành động xấu đó? Nếu ở trong hoàn cảnh của những tội nhân nầy, tôi có làm khác hơn họ được không? Hay tôi phải khiêm tốn thú nhận như thánh Phaolô: Yếu đuối của anh chị em tôi, cũng chính là những yếu duối của tôi! Hãy để cho máu nóng kết án hạ xuống! Hãy để cho tình yêu thương tha thứ dâng cao hơn. Hãy nhìn thấy sâu và rõ hơn hoàn cảnh của người trong cuộc. Chắc chắn ai cũng sẽ quăng bỏ đá cuội đang chuẩn bị ném và âm thầm rút lui.
Ngày 18.3.2013 Thứ Hai sau Chúa Nhật V Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Daniên 13 Hai bậc vị vọng bị bà Susan từ chối thoả mãn tình dục đã dịch tìm cách vu khống ngược lại để hại bà. Đaniên can thiệp phân xử, minh oan cho người đàn bà công chính. Dân chúng ca ngợi Chúa. Phúc Âm: Gioan 8:12-20 Chúa Giêsu mạnh dạn minh xác về chính mình: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống!”
Suy tư Ánh sáng! Công trình sáng tạo đầu tiên của Thiên chúa. Là Tạo Hoá, Chúa là ánh sáng trần gian. Có ánh sáng mới có sự sống. Có ánh sáng mới “thấy đường” mà sống. Có ánh sáng soi dẫn mới nhận ra tạo vật chung quanh. Có Ánh Sáng tức không có bóng tối tà thần và sự chết. Chúa Giêsu là ánh sáng sự sống. Chúa Giêsu là ánh sáng soi đường dẫn lối. Có Chúa Giêsu là ánh sáng, con người sẽ bước đi trên đường ngay chính và đạt tới đích là cuộc sống trường sinh.
Nhà thờ có đèn nhà chầu, có ánh sáng, có người hiện diện. Nhiều lần lái xe trong đêm tối. Tôi thấy bớt lo lắng khi nhìn thấy ánh sáng từ căn nhà trong khoảng không gian tối mịt. Hãy thắp lên ngọn nến sáng hơn là ngồi nguyền rũa bóng tối. Có quá nhiều nguyền rũa về bất công, về khổ sở bệnh tật, về tình đời đen bạc chung quanh chúng ta. Không làm sao hết nguyền rũa và cằn nhằn. Mang Chúa đến giữa bóng tối nhiều tuyệt vọng nầy. Đọc một đọan kinh thánh. Hát một bài hát đạo, nói một câu chuyện vui.. Chúa đến xua trừ bóng tối thất vọng.
Ngày chịu phép rửa tội, chúng ta nhận lấy ánh sáng Chúa Kitô. Theo Chúa Kitô là ánh sáng và phản ảnh ánh sáng Chúa Kitô cho người chung quanh. Cha Thánh Maximilian Kolbe trong hầm tử thần chờ chết đã mang niềm hy vọng phục sinh cho các tử tù. Tiếng kinh nguyện vang lên ngày đêm. Lời kinh sám hối được kêu mời… Ánh sáng hy vọng đến từ trong hầm tử tù, tràn bóng tối chết chóc.
Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp ngày 12.3.1946 trong lẫm lúa nhà Ông giáo Sự ở Cây Gừa đã mang ánh sáng đức tin và hy vọng cho người cùng cảnh ngộ. Cha đã rửa tội cho năm người trong gia đình Ông Trần văn Năng trước khi Cha bị giết chết. Cha Diệp mang ánh sáng cứu độ cho người khác trong đêm tối của đau khổ, thất vọng, phân ly và loạn lạc.
Cây đèn nhỏ cháy sáng, dù rất leo lét cũng vẫn đẩy lui được bóng tối và mang hy vọng cho người chung quanh. Đừng trở thành gió to hay giông bão của ác xấu làm tắt lịm những ngọn nến nhỏ ánh sáng leo lét. Trong gia đình, đứa con vừa mở miệng định nói… người khác tỏ ý không muốn nghe hay quát “nín!”. Không! hãy để cho ngọn đèn nhỏ nầy nhen nhúm và cho thêm chút dầu khuyến khích để cháy to hơn, mang nhiều ánh sáng hơn cho đời.
Ngày 19.3. 2013 Thứ Ba sau Chúa Nhật V Mùa Chay
Lễ Thánh Giuse, bạn trăm năm Đức Maria, lễ trọng Lời Chúa Bài đọc I: Samuên quyển II, chương 7:4-5,12-14,16 Chúa thiết lập triều đại Davít. Bài đọc II: Thư gửi Rôma 4:13, 16-18, 22 Đức tin làm Abrahm nên công chính và được chúc phúc. Phúc Âm: Matthêu 1:16, 18-21, 24 Đấng Messia sinh từ dòng dõi Davít. Giuse là người công chính vì đã tin nghe Chúa và giúp hoàn thành chương trình Chúa. Suy tư Thánh Giuse không nói một câu. Không nói mà chỉ mới nghĩ trong đầu thôi thì cũng đã bị chận đứng rồi. Thánh Giuse là bổn mạng và Đấng bảo vệ Giáo Hội hoàn vũ. Thánh Giuse là bổn mạng của Giáo Hội Canada. Thánh Giuse là bổn mạng của nhiều giáo xứ, nhiều trường học và nhiều người. Thánh Bổn mạng hay quan thầy là người cầu bàu, bảo vệ, giữ gìn và chỉ dạy con linh hồn mình. Nhưng rõ khổ! Thánh nhân chả nói gì thì làm sao gọi là cầu bàu với Chúa cho mình? Nhiều người nói quá nhiều, nói huyên thuyên. Khi còn ở VN tôi quen và tới lui với các Thày dòng Tiểu Đệ. Anh Tám Tây, gốc người Bỉ cần cù làm việc, rất chân tu, rất ít nói. Trái lại một thầy Việt Nam nói quá nhiều và làm việc không kết quả bao nhiêu. Nói nhiều, mất tập trung. Nói nhiều làm mất đặc tính chiêm niệm của dòng. Có một Cha vừa mới nhập địa phận và được mang biệt hiệu “talker”. Ngài thật nhanh nhẫu trong góp ý phát biểu. Ngài hoàn toàn làm chủ tình hình, giành nói hết, khó có ai chen vào. Nói nhiều quá thường đánh mất khả năng lắng nghe người khác hay học hỏi nới ngườii khác. Nhiều lần ngồi chung với Cha ấy và nhiều anh em linh mục khác, tôi đã định góp ý, nhưng không sao tìm ra chỗ trống để chen vào. Im lặng thật cần thiết. Chúa nói với chúng ta trong thinh lặng. Thỉnh thoảng tôi cũng hỏi những ai thân quen xem tôi có nói quá nhiều không? Càng nói nhiều càng dễ sai.
Ai có dịp ra thăm Miền Bắc Việt Nam mình thì thường bị choáng ngộp vì quá nhiều ồn ào, lời lẽ văn hoa và bệnh “nổ” đang hoành hành dữ dội ngoài đó. Không chỉ trong giới bình dân quần chúng nhưng cả trong giới linh mục tu sĩ. Ghé ngang thăm một Toà Giám Mục, được tiếp xúc với linh mục tiếp tân mà người ta hay nổ là “Cha phòng bộ của Đức Giám!” Thấy Ngài không có nhiều việc làm lắm, la cà chung quanh bàn điếu cày, thỉnh thoảng kéo một ngao, phê lim dzim đôi mắt phà khói mịt mù, và nói chuyện về quá trình lâu dài thành linh mục. Ngài cũng không quên hỏi xem “Cha có đi Mỹ bao giờ chưa?” Tôi trả lời “Thỉnh thoảng thôi Cha ạ!” Ngài liền “nổ” huyên thuyên về chuyến đi Mỹ ba tháng của Ngài. Tôi nghĩ bụng: vô ích cho một ngày làm linh mục, Chúa không có dịp để nói. Lạy Thánh Giuse, xin dạy chúng con biết sống khiêm nhường, âm thầm và ít nói.
Ngày 20.3.2013 Thứ Tư sau Chúa Nhật V Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Đaniên 3:14-20,24,25.28 Sharac, Meshac and Abetnêgô bị vua ngoại đạo bắt và buộc lạy tà thần. Họ từ chối và bị ném vào lò lửa. Chúa ra tay uy quyền giữ họ an toàn, vua ngoại giáo được hoán cải. Phúc Âm: Gioan 8:31-32 Người Do Thái tự hào mình là con cháu tổ phụ Abraham và là người tự do. Chúa Giêsu khẳng định họ không là con Abraham, vì họ không tin Chúa như Abraham đã làm. Suy tư Thời nào cũng có hạng người gọi là con ông cháu cha. Thường chẳng nên thân gì, lợi dụng chức vụ, quyền hạn của Cha Ông mình mà quậy phá và gây nhiều khó xử cho người có trách nhiệm. Nhiều con Ông lớn ở VN không chịu học nhưng năm nào cũng phải cho lên lớp. Nhiều người cũng thích nhận họ với các Giám Mục, linh mục hay tu sĩ. Càng làm lớn dòng tộc, thân bằng quyến thuộc càng đông. Cứ nói được ít câu thì lại khoe ‘cha nhà con’ thế nầy thế khác. Cũng có nhiều công tằng tôn nữ Tôn . . . đang chèo thuyền ban đêm đón khách thả bềnh bồng trên sông Hương, cố đô Huế. Cũng không ít con của vài vị tướng lãnh trước năm 1975 đang góp mặt trong những băng đảng bên nầy hay trong danh sách thành phần xã hội đen. Xin tạ ơn Chúa nếu chúng ta được sinh ra và lớn lên trong một dòng họ có nhiều người làm linh mục hay đi tu. Tuy nhiên, chuyện đời sống hàng ngày, chuyện niềm tin là chuyện của cá nhân mỗi người. Các cha trong dòng họ cũng chả đỡ nỗi nếu chúng ta sống bê bôi và mất đức tin. Lúc đó việc có các Ngài trong dòng họ lại là chuyện không đáng hảnh diện chút nào. Cám ơn Trời cho ai đó sinh từ dòng quan tướng oai hùng. Quan tướng bây giờ không còn cha truyền con nối. Chỉ nên hảnh diện về dòng máu “tướng” của mình nếu đã làm được gì đó phục vụ và giúp ích xã hội. Người do Thái tự hào về dòng giống Abraham, cha của những kẻ tin. Chúng ta cũng tự hào về giống nòi hào hùng Việt Nam, về cả trăm ngàn Ông Bà tổ tiên chết vì đạo, vì những thành công ở xứ người. Xin hãy tiếp tục giữ giòng máu tốt đừng để nhiễm những vi khuẩn ích kỷ hay phóng túng sống mất luân thường đạo lý.
Ghé thăm một giáo xứ, thấy đông đúc bà con gói bánh chưng để bán gây quỹ xây dựng nhà Chúa. Tôi chào hỏi làm quen nhưng thực ra không ai muốn làm quen với tôi cả. Có người lên tiếng nói: Chúng con không biết Cha, không nghe tên Cha bao giờ, chúng con chỉ biết có Đức Cha người Việt Nam ở Canada. Tuy nhiên, chuyện sống đạo hay ích lợi cho phần rỗi linh hồn mình không hệ tại chỗ quen Đức Cha hay các Cha mà là chuyện cá nhân biết sống đạo và thực hành bác ái
Ngày 21.3.2005 Thứ Năm sau Chúa Nhật V Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Sáng Thế Ký 17:3-9 Chúa lập giao ước với tổ phụ Abraham: đổi tên ông và hứa ban cho Ông dòng dõi đông vô số, cũng như con cháu ông sẽ có đất làm sản nghiệp. Phúc Âm: Gioan 8:51-59 Ai nghe lời Chúa sẽ được bất tử cũng như Chúa là Đấng bất tử. Người Do Thái lượm đá ném Chúa và Chúa lánh khỏi họ. Suy tư Việt Nam có dược thảo trường sinh, có sửa Ông Thọ. Bên nầy có cây evergreen. Tết đến người ta chúc thọ nhau. Người ta đang tìm thuốc để kéo dài tuổi thọ. Nhưng cái chết vẫn đến từng giây từng phút và không miễn trừ ai. Tháng 2,2005 Boris Trajkovski, tổng thống Macedonia rớt máy bay tử nạn. Tháng 5, 2004 Kadyrov, tổng thống cộng hoà Chechnya thuộc Nga bị ám sát . Tháng 6, 2004, cựu tổng thống Mỹ, Ronald Reagan qua đời. Hàng triệu người khóc thương. Tháng 11,2004 Yasser Arafat nhà lãnh đạo trường kỳ kháng chiến của Palestine chết về một căn bệnh khó hiểu. Ngày 26 tháng 12, 2004 sóng thần giết chết 200 ngàn người dễ dàng ở mười nước Á Châu. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II qua đời lúc 9 giờ 47 phút, giờ Roma, ngày 2 tháng 4, 2005.
Mỗi ngày, trung bình có 151,650 người chết trên thế giới.
Người ta chết hằng ngày nhưng vẫn có bất tử. Chúa bất tử và chúng ta là con Chúa chúng ta cũng được ơn bất tử. Lời nguyện trong lễ đám xác nói: cuộc sống thay đổi chứ không chấm dứt.Chúa xác tín niềm tin nầy khi nói rằng: Nhà Cha Ta có nhiều chỗ, ta ra đi trước để dọn chỗ cho các con để Ta ở đâu, các con cũng ở đó. Nên cái chết mà chúng ta đang đối đấu là chuyến đi về nhà Cha, về nơi vĩnh hằng.
Nhiều người giàu có dư tiền như Quốc vương Bhumibol ở Thái Lan, Ông chiếm giữ khối tài sản kếch xù đến 30 tỉ mỹ kim. Nhưng rồi ông cũng sẽ phải chết như bao nhiêu người giàu và nghèo khác. Cái chết không ai tránh thoát. Điều quan trọng là cái gì đến sau cái chết ở trần gian. Những quốc tang hay tang lễ long trọng với những đoàn người khóc thương đưa tiển dài hàng mấy cây số… tất cả đề cho người sống. Người chết đang được thưởng trên thiên đàng hay đang bị phạt trong hỏa ngục. Đó là mấu chốt của đời người. Nếu được lời lãi cả và thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích chi? Một tỷ phú đã nhờ người ta làm một quan tài có chỗ để đưa hay bàn tay trắng của ông ra cho mọi người thấy. Tất cả là hư vô! Bây giờ ông trắng tay. Cuộc đời mỗi người như một vòng tròn. Chúng ta được thành hình từ Chúa và loay quay với cuộc sống trần gian, sinh, lão, bệnh tử để rồi quay về với Chúa. Chúa là điểm xuất phát và cũng là điểm tới cho cuộc đời ta. Ta xuất phát từ Đấng bất tử, sẽ quay về với Đấng bất tử. Hãy dùng lời đó mà an ủi nhau như Thánh Phaolô nhắn nhủ. Ngày 22.3.2013 Thứ Sáu sau Chúa Nhật V Mùa Chay Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Giêrêmia 20:7,10-13 Vì danh Chúa, Giêrêmia trở thành nguồn cợt nhã và trêu chọc của mọi người. Tiên Tri tin Chúa luôn bênh vực mình. Phúc Âm: Gioan 10:31-42 Người Do Thái cho chúa phạm thượng lộng ngôn vì dám tự nhận mình là con Chúa. Họ tìm cách ném đá và tiêu diệt Chúa. Suy tư Bây giờ chúng ta tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa dễ hơn so với người Do Thái ngày xưa. Chúng ta không thấy Chúa. Chúa là Ông Trời trên cao xa chứ đâu có chơi đáo bắn bi hay là con Ông Giuse, bà Maria nghèo kiết xác, gặp hàng ngày trong xóm chúng ta. Những Việt Kiều về VN tha hồ nổ: nào là kỷ sư, bác sĩ hay quản đốc nhà máy nầy, chủ công ty nọ… Họ được tin vì không ai thấy và biết rõ họ bên nầy làm gì? Trở về bên nầy, tịt ngòi, âm thầm đi cày kiếm sống. Cũng không dễ để chúng ta chứng minh cho bạn bè cùng lớp ngày xưa ở Đại Học hay trong quân trường rằng bây giờ chúng ta là linh mục, có chức thánh, nói một câu là bánh thành Mình Chúa, rượu thành Máu Chúa. Có thấy gì khác xưa đâu mà bảo người ta nhìn thấy mình là linh mục cao trọng. Nói thế để chúng ta đừng kết án người Do Thái vì không tin Chúa là Con Ông Trời. Dù họ có nghe, có thấy nhiều những pháp lạ Chúa làm, có ngạc nhiên vì Chúa giảng như kẻ có quyền, nhưng cũng chưa xoá được cái chuyện là mới ngày nào còn âm thầm làm anh thanh niên hàng xóm của mình. Đức Tin là một trong ba nhân đức đối thần. Đức tin là do Chúa ban Chúng ta không đi học giáo lý, thần học để có đức tin nhưng để củng cố đức tin. Vậy thì Chúa đã không ban đức tin cho Dân Do Thái để họ tin Chúa. Chúa không ban vì họ không xin và tỏ ra không cần. Cứ dựa vào cơ sở con ông cháu cha, con cháu Abraham mà sống và tin là được cứu độ. Cần đọc kin Tin để xin Chúa gia tăng đức tin nơi chúng ta cũng như qua đời sống đức tin chúng ta thành một thuyết phục sự cứng tin nơi người khác. Cũng đừng theo lý luận vô thần để dựa vào vật chất hay những gì mình thấy mới tin. Không ai thấy Ông tổ 4 đời của mình cả, nhưng ai cũng có tổ tiên. Không ai thấy tình yêu bao giờ cả, nhưng ai cũng tin có tình yêu, muốn yêu và muốn được yêu. Chúa chết vì yêu. Nhiều người chết vì yêu. Chắc chắn Chúa không chết vì cái không có? Ngày 23.3.2013 Thứ Bảy sau Chúa Nhật V Mùa Chay
Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Êdêkien 37.21-28 Thiên Chúa là cứu Chúa. Thiên Chúa yêu thương dân Ngài. TC. Thiên Chúa tha tội cho họ, qui tụ họ trên đất Ngài đã hứa ban cho họ từ ngàn xưa. Phúc Âm: Gioan 11.45-56 Sau khi phục sinh Lazarô, uy tín của Chúa lên cao tột cùng. Công nghị Do Thái quyết định thanh toán Chúa trừ hậu hoạn dựa trên lý luận độc hại của Thượng tế Caipha “Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt”
Suy tư
Thật khó hiểu, khi một thượng tế, tức một Giáo Chủ của một tôn giáo mà lại có những lời lẽ giết chết người. Tinh thần tôn giáo của Caipha không có nhiều. Quyền lực chính trị hoàn toàn chiếm ngự con người Ông. Ông không sống và làm việc cho tôn giáo, nhưng cho gia đình và địa vị Ông. Chính trị dễ đưa con người đến thanh toán, tiêu diệt và sát nhân. Chính trị không đi liền với từ bi hay bác ái yêu thương. Bậc tu hành không thể làm chính trị. Người ta hay áp dụng qui luật bất thành văn nầy vào trường hợp Tổng Thống Diệm: Đạo đức, từ bi và rộng lượng tin người đã giết chết anh em Ông.
Cũng vì tham vọng quyền lực chính trị mà Caipha không nhận ra thần quyền nơi con người Giêsu. Đúng ra ông phải suy nghĩ thật sâu và nên tiếp xúc với Giêsu Nadarét để khám phá phần nào chân lý nơi con người như mọi người nầy. Không, ông chọn đường ông đi: đường chính trị, đường thanh toán và tiêu diệt.
Khi đã là người Công Giáo, chúng ta phải chọn con đường từ bi, bác ái yêu thương. Người Công Giáo vẫn có thể làm chính trị. Người công giáo vẫn có thể làm ăn sinh sống như nhiều người khác…. Tuy nhiên không chấp nhận mục đích biện minh cho phương tiện theo lối cộng sản. Không thể để tiền bạc hay lợi nhuận bóp méo lương tâm mình. Không thể trồng cỏ. Không thể chế biến sản phẩm hay thức ăn vô lương tâm như cho thuốc sâu rầy vào rượu. Không thể làm những chuyện gã bán để kiếm tiền.
Hãy nhìn ra thần quyền trong con người của Chúa Giêsu và những bí tích Ngài lập. Hãy nhìn ra ơn thánh hóa trong bí tích rửa tội. Hãy kiên cường sống lời hứa khi chịu phép rửa tội: Từ bỏ ma quỉ, những dối trá và mưu chước ma quỉ. Phải tin vào Thiên Chúa tòan năng, Chúa Giêsu Con Thiên và Chúa Thánh Thần Đấng thánh hóa…. và nhiều điều khác.
Muốn nghe bài giảng Giáo Lý Phúc Âm Chúa Nhật, xin vào Website: liengiaositusi.com - Phần Giáo Lý
Giáo Lý Phúc Âm - CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM C - ngày 24.3.2013
Sách Tiên Tri Isaia 50, 4-7; Thư Thánh Phaolô gửi Giáo đoàn Philipphê 2,6-11
và Bài thương Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca 22,14-23,56
I. Giáo Huấn P.Â.:
Tuần thương khó, tuần của vinh quang và tủi nhục.
Tuần thương khó, tuần của đau khổ, hành hình, chết chóc nhưng cũng là thời điểm ơn cứu độ được ban xuống cho nhân loại.
Tuần thương khó, tuần giằng co giữa quyền lực Satan và sự chiến thắng vinh quang của Con Thiên Chúa Phục Sinh.
Chúa Giêsu trong tuần thương khó được trình bày như con chiên bị sát tế thành giá cứu chuộc cho muôn người:
Trong Cựu Ước, đêm Thiên Thần Chúa Vượt Qua nhà người Do Thái có máu chiên bôi trên cửa và để họ được an toàn rời khỏi ách nô lệ Ai Cập.
Đêm tiệc ly, lần cuối Chúa dự tiệc Vượt Qua của Cựu Ước, nhưng cũng là lần đầu Chúa thiết lập Lễ Vượt Qua của Tân Ước, tức Bí Tích Thánh Thể, Máu Chúa thành giá cứu độ, Mình Máu Thánh Chúa thành lương thực cho hành trình về thiên quốc.
Chúa sát tế chính mình trên thánh giá, giọt máu sau cùng từ cạnh sườn chảy ra thành nguồn ơn cứu độ muôn người. Chúa yêu thương nhân loại đến vắt cạn kiệt chính mình và trao ban đến tận cùng.
II. Vấn nạn P.Â.
Lễ Vượt Qua là gì? Chúa muốn nói gì khi bảo ‘Thầy sẽ không bao giờ ăn Lễ Vượt Qua nầy nữa, cho đến khi lễ nầy được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa’
Lễ Vượt Qua là gì?
Biến cố Vượt Qua xảy ra khoảng năm 1450 trước Chúa Giáng Sinh, được trình bày trong Sách Xuất Hành 12, 1-28: Giết chiên lấy máu bôi lên cửa để đánh dấu là nhà người Do Thái nhằm tránh việc con trai đầu lòng bị sát hại “Khi Ta thấy máu bôi trên cửa, Ta sẽ Vượt Qua” (Xuất Hành 12,13) Thịt chiên dùng làm thức ăn, ăn với bánh không men và rau đắng trong tư thế vội vả xuất hành rời khỏi Ai Cập. Thức ăn, thịt chiên với bánh không men và rau đắng nầy được dùng trong bảy ngày liên tiếp sau khi rời khỏi Ai Cập.
Chúa truyền lệnh cho con cái Do Thái phải mừng lễ Vượt Qua hằng năm để ghi nhớ ngày Thiên Chúa giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Thế là có Lễ Vượt Qua (Passover Feast) và bữa ăn Vượt Qua (Passover meal) với thịt chiên bị sát tế (Paschal lamb) được tổ chức hàng năm.
Khi đã rời khỏi Ai Cập và sau khi đã nhận hai bia đá ghi mười điều răn Chúa ở núi Sinai. Người Do Thái dựng Lều Tạm (Tabernacle) để chứa Hòm Bia Giáo Ước. Aaron và con trai Ông đã được thánh hiến bằng đầu để phục vụ việc tế tự (Xuất Hành 40,13) và sau đó người Do Thái cử hành Lễ Vượt Qua đầu tiên trong Sa Mạc. Suốt bốn trăm năm đầu trong lịch sử Do Thái, khi chưa có đền Thờ Giêrusalem, những thế hệ người Do Thái nối tiếp rất trung thành cử hành Lễ Vượt Qua hàng năm trong nơi hoang dã, để ghi nhớ việc xuất hành rời khỏi Ai Cập và hành trình bốn mươi năm trong sa mạc, sống trong các lểu tạm.
Đến thời vua Davít, khoảng 1000 năm trước Chúa Giêsu, người Do Thái mừng Lễ Vượt Qua ở Giêrusalem theo như lời Chúa truyền cho Môsê được ghi trong Sách Đệ Nhị Luật 16, 1-8. Họ vẫn duy trì việc giết chiên và ăn thịt chiên với bánh không men và rau đắng.
Lễ Vượt Qua ngày nay trong các gia đình Do Thái truyền thống thường được diễn tiến như sau:
Ly rượu đầu tiên: Chúc tụng Thiên Chúa là Vua vũ trụ, Đấng ban hoa màu, sản phẩm cho mặt đất như trong Sáng Thế Ký 1:11. Sau đó họ rửa tay như nghi thức thanh tẩy, được ghi trong Thánh Vịnh 24, 3-4. Họ ăn rau đắng chấm với nước muối, ghi nhớ ngày sống kham khổ dưới ách nô lệ Ai Cập (Xuất Hành 2,23) Sau đó chủ nhà mang ra ổ bánh không men, chia làm ba. Lấy một phần ba gói lại đem cất để dành như một chuẩn bị cho hành trình xa. Hai phần còn lại chia cho người trong nhà.
Để giúp những thế hệ sau ghi khắc sâu đậm những biến cố lịch sử nầy. Người ta đặt bốn câu hỏi: Tại sao cử hành bữa ăn Vượt Qua đêm nay? Tại sao ăn rau đắng? Tại sao chấm rau đắng vào nước muối và tại sao vừa ăn vừa ngã người thoải mái? Rồi họ đọc lớn tiếng Sách Xuất Hành chương 12 và hai Thánh Vịnh 113 và 114.
Ly rượu thứ hai gọi là ly ghi nhớ mười tai hoạ Chúa đã giáng phạt Ai Cập để giải thoát dân Do Thái. Họ lần lượt lặp lại: Mưa máu, ếch nhái, chí rận, ruồi muỗi; gia súc chết, nước nóng, mưa đá, châu chấu, trời tối, con trai đầu lòng bị giết chết (Xuất Hành 7, 14-12,36)
Cao điểm của tiệc Vượt Qua: Ăn thịt chiên nướng (thịt quay)
Ly rượu sau cùng: uống để kết thúc tiệc Vượt Qua với bài hát “Halel” tức Alleluia trong Thánh Vịnh 115-118 cũng như tán tụng tình yêu Thiên Chúa bền vững đến muôn đời qua Thánh Vịnh 136. Lời chào từ biệt sẽ là: Hẹn gặp ở Giêrusalem năm sau!
Chúa muốn nói gì khi bảo: ‘Thầy sẽ không bao giờ ăn Lễ Vượt Qua nầy nữa, cho đến khi lễ nầy được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa’
Chúa tổ chức mừng Lễ Vượt Qua truyền thống Do Thái với các môn đệ hai ngày sớm hơn bình thường, vào tối Thứ Năm thay vì tối Thứ Bảy (Matt.26,18-20) Sau đó Ngài bị bất, bì tra tấn, bị xét xử, bị hành hình và chết thảm thương trên Thánh Giá. Đúng là Chúa không còn cơ hội ăn mừng Lễ Vượt Qua truyền thống Do Thái nữa.
“Cho đến khi Lễ nầy được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa”. Theo truyền thồng, sau khi lần rượu thứ hai, Chúa Giêsu và các môn đệ ăn thịt chiên và bánh không men. Chúa đã lập Bí Tích Thánh Thể, biến bánh rượu Thánh Mình Máu Chúa. Như vậy Lễ Vượt Qua trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa tức Thánh Lễ trong Tấn Ước do chính Chúa Giêsu thiết lập trong bữa tiệc ly, vào đêm tối Thứ Năm trướcd khi Ngài bị nộp.
Tiệc Vượt Qua nầy thật trọn vẹn có Chúa Giêsu như chiên Thiên Chúa (Gioan 1,29) bị sát tế để mang sự giải thoát nhân loại khỏi tội lỗi (Thư I gửi Corintô 5,7) Trong Tân Ước, không phải con vật chết thay cho tội lỗi con người, nhưng là Con Thiên Chúa làm người.
Mình và Máu con Thiên Chúa làm người thành lương thực nuôi sống con người trong hành trình về quê trời, về cuộc sống vĩnh cửu. Ai ăn uống Mình Máu Chúa sẽ không phải chết như trong Phúc Âm Gioan 6, 54. Trong Cựu Ước tổ tiên người Do Thái ăn thịt chiên hay ăn Manna trong Sa Mạc rồi cũng đã chết. Trong Tân Ước, máu thịt con Chiên Thiên Chúa ban cho con người sự sống vĩnh cửu. Vì máu chiên bò Chúa không ưng, của lễ toàn thiêu Chúa không nhận, thì nầy Con xin đền để thành lễ vật hoàn hảo theo như Thánh Ý Cha (Thư Thánh Phaolô gửi Do Thái 10, 1-10)
“Rồi Người nhận lấy chén dâng lời tạ ơn… Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra trao cho các Ông…’ Xem chừng Chúa lập Bí Tích Thánh Thể khác nhau. Trong Luca, rượu trước bánh sau, còn trong Mathêô, Matcô, Gioan và trong thư thứ I Thánh Phaolô gửi Corintô thì bánh trước rượu sau?
Tường thuật bữa tiệc ly và việc Chúa lập Bí Tích Thánh Thể được tìm thấy trong:
Phúc Âm Thánh Luca 22, 7-23 như chúng ta thấy trong bài thương khó hôm nay: Rượu trước, bánh sau.
Phúc Âm Matthêô 26, 26-30: bánh trước, rượu sau.
Phúc Âm Matcô 14, 22-25: Bánh trước, rượu sau.
Phúc Âm Gioan 13, 21-30: Không mô tả cách thức rõ ràng, trọng tâm là những lời sau cùng của Chúa Giêsu về giới luật yêu thương và sự gắn bó với Chúa như cành nho và thân nho.
Trong Thư I Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Corintô 11,23-26: Bánh trước rượu sau.
Người ta cho rằng, Thánh Luca đã đặt việc Chúa lập Bí Tích Thánh Thể ngay sau lần uống ly rượu đầu trong tiệc Vượt Qua. Người Do Thái uống ly rượu đầu trong tiệc Vượt Qua để chúc tụng Chúa vì ban hoa màu ruộng đất và rượu nho. Chúa dùng rượu để thánh hiến thành Máu Chúa. Rồi sau đó, chủ nhà mang bánh không men ra, chia nhau ăn với rau đắng chấm vào nước muối thì Chúa mới dùng bánh để thánh hiến thành Mình Chúa.
Còn các Phúc Âm khác thì đặt việc Chúa lập Bí Tích bThánh Thể sau khi chủ nhà mang bánh không men ra ăn với rau đắng. Lúc đó Chúa dùng Bánh thánh biến thành Mình Chúa. Kế đến khi uống ly rượu thứ hai, trước khi ăn chiên sát tế, Chúa thánh hiến rượu thành Máu Thánh Chúa.
Chúa lập Bí Tích Thánh Thể theo trật tự nào, bánh trước hay rượu trước?
Nhiều người đồng ý với cách thức: Bánh trước, rượu sau. Ví chỉ có Thánh Luca là nói khác: rượu trước, bánh sau. Sự thật, Thánh Luca là môn đệ của Thánh Phaolô sau nầy, Ông không có mặt trong bữa tiệc ly. Đang khi đó Matthêô và Gioan tham dự bữa tiệc ly và chứng kiến tận mắt việc lập Bí Tích Thánh Thể. Vậy thì tường thuật của Gioan và Matthêô phải chính xác hơn.
Giáo Hội tán thành trật tự nầy: Trong thánh lễ, Linh Mục truyền phép bánh trước và rượu sau.
Như vậy Phúc Âm Thánh Luca không chính xác?
Như đã có lần nói. Phúc Âm không là một tường thuật về những biến cố đang xảy ra tại chỗ. Không! Phúc Âm là sách dạy giáo lý của các tông đồ, được thành hình ít là 40 năm sau khi Chúa lên trời. Phúc Âm không chú trọng đến sự thật của sự việc mà là quan điểm thần học của tác giả.
Nên Chúa thánh hiến rượu trước hay bánh trước không làm thay đổi giá trị Bí Tích Thánh Thể chút nào. Đó là Mình Chúa và Máu Chúa sau lời truyền phép. Vậy tại sao Thánh Luca lại đảo lộn trật tự lập Bí Tích Thánh Thể bằng cách cho rượu được thánh hiến trước?
Tường thuật trong sách xuất hành bảo là: giết chiên lấy máu bôi lên cửa, rối làm thịt chiên ăn với rau đắng trong tư thế sẵn sàng ra đi. Nên phải có máu trên cửa trước để thiên thần mới biết mà Vượt Qua. Nhờ vậy mới có sự sống sót cho con trai đầu lòng người Do Thái. Sau khi rời khỏi Ai Cập, người Do Thái hằng năm mừng lễ Vượt Qua, giết chiên và vẫn lấy máu bôi trên cửa như Cha Ông họ làm ngày xưa, sau đó mới ăn bánh không men.
Máu chiên đổ ra để cứu sống. Bánh để nuôi sống người được cứu sống. Nếu không được cứu sống thì cũng không cần bánh để nuôi sống. Nên Thánh Luca là người đã theo sát truyền thống Do Thái khi tường thuật việc Chúa lập Bí Tích Thánh Thể theo trật tự rượu trước, bánh sau. Ngài mô tả Chúa Giêsu như con chiên bị sát tế và lấy máu mình cứu độ nhân loại và rồi mới biến thân mình thành lương thực nuôi sống nhân loại được cứu sống.
Luật Phụng Vụ Thánh Thể cho phép người công giáo có thể chỉrtước Máu Thánh Chúa. Nếu họ không thể rước Mình Thánh Chúa.
Tại sao Chúa Nhật Lễ Lá cũng là Thánh Lễ mà lại không công bố Phúc Âm nhưng thay vào đó có đôi người đảm trách những vai khác nhau để đọc “Bài thương Khó Chúa Giêsu Kitô theo thánh ….”
Chúa Nhật Lễ Lá và Thứ Sáu Tuần Thánh không có công bố Phúc Âm Phúc. Nhưng Phúc Âm lại được đọc theo kiểu tường thuật những biến cố xảy ra trong quá khứ.
Trong những Thánh Lễ, dù ngày thường hay chúa nhật Phúc Âm Phải được long trọng công bố bởi thừa tác viên có chức Thánh như Phó Tế, linh mục hay Giám Mục… Vì qua thừa tác viên có chức thánh, qua chính con người Chúa Kitô là đầu (in personna Christi Capitis), Chúa trực tiếp giáo huấn dân người như mặt đối mặt. Nên chúng ta thấy, Giáo dân không bao giờ được phép giảng ngay sau công bố Phúc Âm. Giáo dân không có chức Thánh để hành động in personna Christi Capitis. Phải để cho linh mục trong hình ảnh Chúa Kitô là thủ lãnh ban huấn dụ cho dân Chúa.
Trong Chúa Nhật Lễ Lá và Thứ Sáu Tuần Thánh. Phúc Âm không được long trọng công bố mà chuyển sang hình thức tường thuật. Chúa Giêsu bị bắt, chịu đánh đòn, chịu hành hình và bị giết chết. Chúa dường như thua cuộc trước thế lực của tà thần…Chúa đình chỉ những huấn lệnh mặt đối mặt. Người khác, không cần người có chức thánh, đóng vai trò “kể chuyện” tường thuật những biết cố đau thương của cuộc đời Chúa. Kết thúc tường thuật, sách bài đọc ghi chú: Không có tuyên bố “Đó là Lời Chúa! Và thừa tác viên tường thuật im lặng trở về chỗ mình”.
Còn chúng ta, những người tin Chúa, chăm chỉ lắng nghe và theo những bước chân cứu rỗi của Chúa.
III.Thực hành P.Â.:
Bảy Lời sau cùng của Chúa Giêsu là bảy Lời Cứu độ
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận đã liệt kê những lời sau cùng của Chúa Giêsu.
Lạy Cha! Xin tha cho họ vì họ lấm không biết
Thưa Bà, nầy là Con Bà!
Nầy là Mẹ Con!
Quả thật, hôm nay anh sẽ được ở trên thiên đàng với Ta!
Ta Khát!
Lạy Cha, sao Cha bỏ con!
Mọi sự đã hoàn tất!
Đây là những lời cứu độ và ban ơn phúc cho nhân loại. Chúa là Đấng cứu thế cho đến hơi thở cuối cùng. Chúa thật hết sức tận tụy với sứ mạng cứu thế của mình. Tìm mọi cách để cứư người: Tay chân bị đóng đinh dính vào Thánh Giá, vô phương cựa quậy. Toàn thân đau đớn, không sao trăn trở được. Nhưng Ngài vẫn là Ngôi Lời của Thiên Chúa, Verbum Dei. Lời sáng tạo. Lời tha thứ và Lời cứa độ.
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn thuận bị bỏ tù khổ sở hơn 13 năm. Không tìm thấy nơi Ngài một lời oán trách, hận thù hay hằn hộc với những người làm khổ mình.
Ước gì lời nói của chúng ta là lời mang bình an, mang phấn khời và khích lệ cho người khác. Ích gì khi buông những lời miệt thị, những lời gây tổn thương, những lời chà đạp danh dự người khác. Chúng ta được cứu chuộc bằng Lời Chúa. Xin hãy thành Lời Cứu sống người khác.
Từ trên ghềnh đá, chắc Chúa buồn lắm! Tình đời mau đồi thay!
Chúa Nhật Lễ Lá trình bày hai khía cạnh thật đối chọi: Vinh quang và khổ nhục.
Suốt ba năm truyền đạo đi từ Bắc chí Nam, Chúa làm nhiều phép lạ chữa bệnh tật và cho người chết sống lại. Chúa thi ơn bố đức cho thật nhiều người. Hôm nay người ta trải áo choàng trên lưng lừa, đặt Chúa lênh, chặt cành lá lót đường, và hô to “Hoan hô Con Vua Davít, Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến!”
Chỉ mấy ngày sau thôi, sáng sớm ngày Thứ Sáu, trong sân tổng trấn Philatô. Người ta hò hét: Đóng đinh nó vào thập giá! Xin tha cho Baraba! Đóng đinh nó vào thập giá!
Từ trên ghềnh đá, Chúa đã nghe tiếng.
Tiếng người thọ ơn vu cáo mình làm loạn.
Từ trên ghếnh đá, Chúa đã nhìn thấy:Người ăn no, đòi đóng đinh kẻ hoá bánh ra nhiều.
Chúa đã nhìn thấy, chắc Chúa buồn lắm:
Tình đời mau đổi thay! Chúa đã nhìn thấy, nhìn thấy dáng con đàng xa
Tình con cũng đổi thay! Tôi cũng buồn lắm khi người thọ ơn vô tâm phản bội.
Tuần Thánh, dịp để nhìn thấy tình Chúa và tình người.
Thứ Năm Tuần Thánh, giờ canh thức với Chúa.
Tôi có cơ hội để nhận ra những phản bội của mình dành cho tình thương bao la của Chúa.
Ngày 25.3.2013 Thứ Hai Tuần Thánh Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Isaia 42:1-7 Đầy tớ Chúa được chọn để chịu đau khổ và mang công chính cho trần gian. Phúc Âm: Gioan 12:1-11 Maria dùng dầu thơm đắc giá xức chân Chúa và lấy tóc lau. Cả nhà ngào ngạt mùi thơm. Giuda cho là phí tiền. Chúa liên kết việc xức dầu với việc tẩm liệm Ngài trong tương lai gần. Suy tư Giuda tỏ ra tiếc bình dầu thơm đắc giá và cho là phí phạm, giá chi đem bán để giúp người nghèo. Phúc Am Thánh Gioan bảo Giuda không hề có lòng thương người nghèo, nhưng thật sự là tên ăn trộm, đã nhiều lần lấy tiền người ta dâng cúng xài riêng. Những ngày đầu mới định cư thường ai cũng chi tiêu cần kiệm dè sẻn vì còn so sánh giá cả chênh lệch quá lớn giữa Việt Nam và Canada. Ba đồng một bó rau muống 10 cọng. Bên VN. $30000 mua cả ao rau muống. Rồi nhớ đến những người nghèo lao động vất vả cả ngày chỉ được $20000. Nên họ cũng thường khuyên nhau: cố gắng tiết kiệm để giúp VN. Chỉ cần không hút một gói thuốc là ở VN. một gia đình có thể ăn ngon cả ngày. Nhưng rồi những nhớ thương, thông cảm, so sánh nầy cũng mai một dần. Sống chỗ nào phải theo chỗ đó chứ! Càng hội nhập bên nầy bao nhiều, sự thông cảm với người nghèo bên VN mất dần và những giúp đỡ cũng hiếm hoi dần. Giuda không thực sư thương người nghèo. Vì người nghèo có luôn chung quanh, đã không giúp bao giờ mà còn ăn cắp của người ta biếu cho nhóm. Có nhiều người giả bộ thương người nghèo hay nói về sự chia sẻ với người nghèo, nhưng thiếu hành động cụ thể. Chỉ cần một cuối tuần, một đôi vợ chồng hai đứa con có thể tiêu 500 đồng dễ dàng cho những fast food, những đồ chơi. Đang khi đó thấy sót xa khi bỏ 2 đồng vào rỗ nhà thờ hay 5, 10 đồng cho những nạn nhân thiên tai. Tôi nghĩ ngợi lắm khi thấy một anh bạn bỏ ra 1000 đồng mua chiếc môtô điện cho con trai mình chạy chơi trong nhà. Nhà ba mẹ anh ở Việt Nam làm cả năm không chắc kiếm được số tiền đó. Ước gì câu nói “phải chi bán thứ nầy, thứ nọ cho người nghèo” được thực hiện nơi chúng ta, những ai thực sự thương người nghèo.
Ngày 26.3.2013 Thứ Ba Tuần Thánh Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Isaia 49:1-6 Người đầy tớ đau khổ của Chúa được tiền định từ trong lòng mẹ để mang ánh sáng cứu độ tới muôn dân. Phúc Âm: Gioan 13:21-33, 36-38 Trong bữa tiệc ly, Chúa nói rõ một môn đệ sẽ phản bội và dùng việc trao miếng bánh để chỉ rõ cho Gioan ai là kẻ phản bội. Giuda nhận bánh, Satan nhập vào,hắn rời phòng tiệc và Trời tối. Suy tư Đêm tối và ánh sáng là những đối từ Gioan hay dùng để chỉ sự đối nghịch giữa Satan, tội lỗi, ác xấu với Chúa là ánh sáng, là công chính. Nên nói Satan nhập vào Giuda, ông đi ra và bóng tối chụp xuống là để diễn đạt con người Giuda đã bị ma quỉ thống trị và mưu đồ chuyện ác xấu. Đêm tối đồng loả với bất chính. An cướp, ăn trộm thường xảy ra ban đêm. Những mối tình vụn trộm cũng nhờ đêm tối hay một góc tối ngoài vườn làm đồng loã. Những chuyện rình mò, đột nhập điều tra cũng nhờ bóng tối che giấu. Không biết sao Chúa đã nói rất rõ mà không thay đổi được mưu đồ phản bội của Giuda. Người ta suy luận rằng: Chúa cần Giuda bán Chúa để chương trình cứu độ được thực hiện. Giuda có công chớ không có tội, vì ông tiếp tay trong chương trình Chúa. Nói thế không cắt nghĩa được lời Chúa quở “Phải chi nó đừng sinh ra thì hơn” hay câu Chúa nói trong vườn Cây Dầu với Giuda “Giuda, con nở lòng nộp Thầy bằng chiếc hôn sao?” Lời trách móc đau đớn não nề không mang chút tán thành nào. Giuđa không thay đổi vì đã bị Satan khống chế như Gioan tường thuật. Giuđa không là công cụ của chương trình cứu độ, nhưng là của Satan, của bóng tối và bất lương. Satan, quyền lực bóng tối úp chụp lên Giuđa và đưa đến hành động tiêu diệt ánh sáng.
Mỗi năm, dù linh mục hay giáo dân, chúng ta cũng nên dành ra một tuần hay ba ngày để tĩnh tâm. Tĩnh tâm có nghĩa làm cho tâm mình tĩnh lặng hay bình tĩnh. Tôi rất lấy làm ngưỡng mộ Cha Nguyễn tầm Thường. Ngài đi khắp nơi để giảng tĩnh tâm cho giáo dân. Chúng ta cần ra khỏi những bóng tối đang úp chụp trên chúng ta: bóng tối của vật chất tiền bạc, bóng tối của những mối tình mờ ám, bóng tối của những gian tham bất chính, bóng tối của những chán nản ê chề… Tĩnh tâm, phơi bày tâm mình trước Chúa là ánh sáng, chúng ta sẽ tìm ra ánh sáng cứu độ.
Ngày 27.3.2013 Thứ Tư Tuần Thánh Lời Chúa Bài đọc I: Isaia 50:4-9 Đầy tớ của Chúa chấp nhận mọi xỉ nhục: đưa lưng cho người ta đánh, đưa má cho người ta vả, đưa râu cho người ta giật, đưa mặt cho người ta khạc nhổ. Phúc Âm: Matthêu 26:14-26 Giuda nhận tiền bán Thầy. Sau đó bình tĩnh ăn bữa tiệc ly với Thầy. Suy tư Sau nghị quyết 297 ban hành ngày 1.7.1977 sự thuyên chuyển Linh mục, tu sĩ thật khó. Đức Giám Mục cố gắng phân tán chủng sinh đến những nơi không có linh mục để có cơ hội chịu chức. Nhưng thật không dễ để có hộ khẩu. Chúng tôi bắt đầu bằng giấy tạm trú. Một thầy già cùng lớp đã có giấy tạm trú, đã đến ở giáo xứ cho tới ngày cuối của tờ giấy cho phép. Giáo dân bày tiệc nhậu, mời anh em công an đến tham gia và dự định giữa tiệc, lúc mọi người đã ngà ngà thì sẽ xin gia hạn và ký ngay tại chỗ. Tiệc bày linh đình, khách dự thật đông, chén anh chén tôi thật huynh đệ. Bà Mẹ chiến sĩ mạo muội xin gia hạn giấy tạm trú cho thầy. Anh trưởng phòng Công an huyện bảo: Má an tâm, chuyện nhỏ, chút xíu rồi ký! Mọi người vui như Tết. Quá 12 giờ đêm, anh trưởng phòng công an muốn xem giấy. Giấy tạm trú quá hạn đã nửa tiếng đồng hồ, cư trú bất hợp pháp. Thầy già ở tù mất sáu tháng. Thầy già bị bắt khi bữa tiệc chưa tàn.Vừa ăn đó rồi còng tay đó! Người ta kết luận. Chuyện kỳ cục, nhưng có thật. Chuyện hai mươi năm rồi nhưng tôi vẫn nhớ từng chi tiết. Chuyện Giuda phản Thầy 2000 năm rồi vẫn còn ghi chép rành rành trong Kinh Thánh và không sao phai nhoà trong lòng người. Nó được khắc sâu vì cách thức phản bội thật độc đáo và bất nhẫn: vừa ăn uống thật tình nghĩa thì đi kêu người bắt. Sau đó còn hôn để giúp người khác bắt Thầy cho chính xác. Ăn uống, ôm hôn, toàn những cử chỉ của tình thương lại được dùng làm cách thế phản bội. Thật trơ trẽn! Những cái bắt tay chào hỏi khi anh em linh mục tu sĩ chúng mình gặp nhau mong là những bộc lộ tình anh em chân thật và đầy nâng đỡ. Xin đừng tỏ ra bằng mặt mà không bằng lòng, vừa vui vẻ đó, vừa ăn chung mâm đó nhưng sau đó, Bề Trên hay Giám Mục được báo cáo toàn những chuyện tiêu cực của nhau.
Xin hãy ngân nga câu hát rất thắm thía nầy: Chúa vẫn trung thành mãi, dù thời gian mau qua biến trôi, dù lòng ta đan tâm hững hờ. Cho đến muôn ngàn đời. Chúa vẫn trọn tình thương! Dù ngày nào mà ta chối Ngài, Ngài phải đành lòng mà chối ta. Cho dù ta bất xứng, dù ta phản bội. Cho đến muốn ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương.
Ngày 28.3.2005 Thứ Năm Tuần Thánh
Cử hành bữa Tiệc Ly của Chúa
Lời Chúa
Bài đọc I: Sách xuất hành 12:1-8, 11-14 Dân Do Thái trên đất Ai Cập được lệnh chuẩn bị một
con chiên đực không tì vết, một tuổi để vào giữa tháng khi có lệnh sẽ giết chiên, nướng ăn với bánh không men, lấy máu bôi trên cửa, tay cầm gậy và sẵn sàng lên đường.
Bài đọc II: Thư I gửi Corintô 11:23-26 Phaolô nhắc lại lời Chúa truyền trong bữa tiệc ly là “hãy làm
việc nầy để nhớ đến Ta”.
Phúc Âm: Gioan 13:1-15 Chúa rửa chân cho các môn đệ và dạy họ phải biết phục vụ cho nhau.
Suy tư
Có nhiều nhận định cho rằng: Làm linh mục ở Việt Nam thật sướng vì được giáo dân kính trọng và lo cho đầy đủ mọi chuyện. Còn làm linh mục bên nầy, lo cho các cộng đoàn người Canada, phải lo mọi chuyện cho giáo dân. Ơ VN làm linh mục đúng là làm Cha. Tôi có kinh nghiệm 15 năm làm thầy già giúp xứ bên VN, nhưng chưa từng làm linh mục coi xứ VN. Nên tôi không muốn phê phán nhận định nầy đúng hay sai. Tôi chỉ chia sẻ cái thích thú của mình trong việc phục vụ cộng đoàn Canada. Tôi có dịp nấu cơm, rửa chén, lau quét nhà cửa, giặt đồ cho mình. Tôi có dịp cắt cỏ, xúc tuyết hay dọn dẹp nhà thờ. Tôi có dịp đứng cuối nhà thờ bắt tay, chào hỏi mọi người. Tôi có dịp để tập ăn nói lịch sự, nhẹ nhàng cũng như có nhiều cơ hội để nói xin lỗi, sống khiêm tốn và thấy đời mình thật ý nghĩa, hữu ích cho nhiều người và nhất là thấy mình thể hiện được phần nào ơn gọi linh mục. Chúa Giêsu là linh mục thượng tế. Ngài hy sinh chính mình để mang phần rỗi cho nhân loại. Ngài lập bí tích Thánh Thể để cho, để ban phát chính mình làm thức ăn nuôi sống người khác. Chúa Giêsu thông ban chức linh mục thừa tác cho linh mục, để nhờ họ dâng lễ và tiếp tục nuôi dân bằng chính Mình Máu Chúa. Thật có ý nghĩa cho đời linh mục khi tôi có dịp phục vụ. Thật vô nghĩa cho đời linh mục khi tôi được phục vu. Càng phục vụ tôi càng là linh mục. Càng được phục vụ tôi càng là Cha.
Xin hãy thương linh mục bằng cách giúp các Ngài sống đúng vai trò và ơn gọi linh mục. Đêm Thứ Năm Tuần Thánh, Chúa lập Bí Tích Thánh Thể và chức linh mục thừa tác. Chúa đã rửa chân để nêu gương phục vụ. Chúa trở thành của ăn của uống để cho đi cách trọn vẹn. Cầu cho chúng tôi biết cho đi mà không tính toán và đòi hỏi. Rất cám ơn!
Ngày 29.3.2013 Thứ Sáu Tuần Thánh
Cử hành cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Lời Chúa Bài đọc I: Tiên Tri Isaia 52:13-53:12 Đầy tớ của Chúa gánh chịu mọi nhục hình và tội lỗi ghê gớm của dân. Bài đọc II: Thư gửi Do Thái 4:14-16; 5:7-9 Đức Kitô thật sự đau khổ, đã van nài xin tha chết. Nhưng Ngài đã vâng lời cho đến chết để thành nguồn ơn cứu độ bất diệt cho chúng ta. Bài Thương Khó: Gioan 18:1-19:42 Chúa bị bắt trong vườn cây dầu, bị xét xử qua hai toà án và sau cùng bị hành hình khổ giá. Suy tư
Người ta cật lực tìm giết Chúa để kịp cử hành lễ Vượt Qua. Đêm khuya lùng bắt Chúa, mở phiên toà tôn giáo xử ngay. Gọi là toà tôn giáo vì có giáo chủ Do Thái, thượng Tế Caipha làm chánh án. Tìm không ra tội và không cần chứng cớ nhưng vẫn có án: Án chết.
Kết án, nhưng không giết được. Sáng sớm chuyển sang toà án chính trị La Mã. Philatô làm tổng trấn, người ngoại giáo, dinh thự kẻ ngoại coi là ô uế, người Do Thái không vào, đứng ngoài hò hét “đóng đinh nó vào thập giá!” Phúc Âm thánh Gioan thật thâm thúy khi diễn tả được cái mâu thuẫn trơ trẽn của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, giữa hành động nhơ bẩn giết người và quan niệm cố giữ mình khỏi bị ô uế để xứng đáng cử hành lễ Vượt Qua.
Phêrô chối Thầy ba lần trước một phụ nữ. Cô ta không là bà lớn uy quyền đáng sợ, chỉ là cô sen của bà tổng trấn. Gà gáy sáng, Phêrô nhớ lời Thầy, khóc thảm vì chuyện hèn nhát của mình. Ba năm trời truyền đạo, làm nhiều phép lạ cứu nhân độ thế, giảng về tình yêu. Giờ đây sao toàn người ghét mình vây quanh? Một phân trần, một ánh mắt thương xót không sao tìm thấy. Chúa thật sự bị bỏ rơi cho chết. Nhưng Chúa biết rõ giá trị cái chết của mình: như hạt giống phải hư đi để phát sinh muôn ngàn hạt giống khác, mình chết để nhiều người sống, mình có bị treo lên mới kéo được người khác lên, lên khỏi đất tội lỗi để về với Cha trên Trời. Cái hấp dẫn của đạo Công Giáo là người chết trên thánh giá. Người đó bị đóng đinh không vì tội mình nhưng vì tội người mình yêu, tội nhân loại. Không ai yêu người khác bằng dám chết cho người mình yêu. Người bị đóng đinh nói vậy và đã làm vậy.Hấp dẫn, lôi cuống và chinh phục người theo. Muốn người ta bỏ đạo phải hạ thánh giá xuống. Thánh Giá không còn là gỗ, là xi măng, sắt thép, nhưng đã thành vết, in sâu trong tâm hồn người tin. Giết chết người nầy, còn người khác. Thế hệ nầy qua đi, thế hệ khác nối tiếp mang thánh giá, vác thánh giá và khắc sâu thánh giá trong tâm hồn mình. Thánh giá thành bất diệt như tình yêu bất diệt.
Muốn nghe bài giảng Giáo Lý Phúc Âm Chúa Nhật, xin vào Website: liengiaositusi.com - Phần Giáo Lý
Giáo Lý Phúc Âm - CHÚA NHẬT PHỤC SINH NĂM C - ngày 31.3.2013
Sách Tồng Đồ Công Vụ 10, 34, 37-43; Thư Thánh Phaolô gửi Giáo đoàn Colossê 3,1-4
và Phúc Âm Gioan 20, 1-18
I. Giáo Huấn P.Â.:
Chúa đã sống lại ngoài ức đoán của con người: Thấy mồ trống, Bà Maria Madalêna nghĩ là người ta trộm xác Chúa. Thấy Chúa Giêsu sống lại, bà nghĩ là người làm vườn.
Chúa đã sống lại thật:
Hiện tượng mồ trống: Khối đá lấp cửa mồ đã lăn sang một bên; Xác Chúa Giêsu không còn trong mộ, khăn liệm vải liệm xếp gọn ghẻ sang bên.
Chúa phục sinh hiện ra cho Maria Madalêna và bảo bà đi loan báo tin Chúa Phục Sinh cho các môn đệ Chúa.
II. Vấn nạn P.Â.
Ngày thứ nhất trong tuần là ngày nào trong Kinh Thánh?
Ngày Thứ Nhất trong tuần là ngày Chúa Nhật tính theo Dương Lịch?
Ngày Thứ Nhất trong tuần theo Kinh Thánh và truyền thống của người Do Thái:
Từ “Ngày Thứ Nhất trong tuần” được xử dụng tám lần trong Kinh Thánh Tân Ước và chúng ta không thấy đề cập đến từ Chúa Nhật:
Bốn lần “ngày thứ nhất trong tuần” được nói đến trong Matthêô 28:1; Matcô 16:2; Luca 24:1 và Gioan 20:1 như chúng ta thấy trong Phúc Âm hôm nay. Tất cả bốn Phúc Âm đều nói đến “ngày thứ nhất trong tuần” như là ngày khám phá ra việc Chúa Phục Sinh. Chắc chắn ngày Thứ Nhất trong tuần không phải là ngày Sabbath vì những người đàn bà mang thuốc thơm đến mộ Chúa ngày Thứ Nhất trong tuần vì họ không kịp làm chuyện nầy trong ngày Sabbath như trong Luca 23:56.
Hai lần khác nói đền “ngày thứ nhất trong tuần” là việc Chúa hiện ra trong cùng ngày được nói trong Phúc Âm Matcô 16:9 và Gioan 20:19. Trong Phúc Âm Gioan 10:19 nói đến việc Chúa hiện ra cho các tông đồ đang tụ họp trong phòng đóng kín cửa vì sợ người Do Thái dòm ngó. Họ tụ họp không phải để cử hành ngày Sabbath gì cả, nhưng xem chừng chỉ nói cho nhau về những tin đồn Chúa sống lại.
Thánh Phaolô giảng dạy trong “ngày thứ nhất trong tuần” như trong Công Vụ sứ Đồ 20:7 mô tả. Ai cũng hiều là chiều tối ngày Thứ Bảy sau khi mặt trời lặn theo như cách tính ngày của người Do Thái. Sau đó Phaolô đi Giêrusalem. Không thấy nói đến việc Phaolô giữ luật ngày Chúa Nhật. Trong thư Thứ Nhất của Thánh Phaolô gừi Giáo Đoàn Corintô 16:2 nói đến yêu cầu quyên góp giúp Hội Thánh nghèo ở Giuđêa vào ngày Thứ Nhất trong tuần. Nhưng đây là việc làm riêng tư chứ không phải là một quyên góp trong ngày nhóm họp Sabbath.
Kinh Thánh và truyền thống Do Thái cho thấy: Ngày Thứ Nhất trong tuần không phải là ngày Sabbath của Do Thái. Ngày Sabbath là ngày thứ bảy, ngày Đấng Tạo Hoá nghỉ sau sáu ngày tạo dựng như trong Sáng Thế Ký 2:2-3 mô tả. Sau nầy ngày Thứ Bảy tức ngày Sabbath thành ngày lễ buộc phải nghỉ cho toàn dân Do Thái như được ghi trong sách Xuất hành 20:11 và cả trong hai bia đá lề luật mà Môsê nhận ở núi Sinai (Xuất Hành 16, 23-30)
“Ngày thứ nnhất trong tuần” là ngày sau ngày Sabbath, ngày nghỉ lễ mà sau nầy lịch Roma gọi là Dies Solis, ngày của Thần Mặt Trời, tức ngày Chúa Nhật bây giờ.
Ngày Thứ Nhất trong tuần là ngày Chúa Nhật tính theo Dương Lịch
Dương lịch, lịch tính theo Thái Dương hệ tức hệ mặt Trời. Đây là lối tính lịch của La Mã. Người La Mã gọi tên các ngày trong tuần theo tên của bảy hành tinh trong Thái Dương Hệ: Mặt Trời (Sun) – Mặt Trăng (Moon) – Hoà tinh (Mars) – Thuỷ tinh (Mercury) – Mộc tinh (Jupiter) – Kim tinh (Venus) – Thổ tinh (Saturn)
Mặt trời – Sun - Sunday – Dies Solis – First Day - Ngày Chúa Nhật – Dies Dominica.
Mặt Trăng – Moon - Monday – Dies Lunae – Ngày Thứ Hai.
Hoả Tinh – Mars – Tuesday - Dies Martis – Third Day - Ngày Thứ Ba.
Thuỷ tinh – Mercury – Wednesday – Dies Mercurii – Fourth Day – Ngày thứ Tư.
Mộc Tinh – Jupiter – Thursday – Dies Jovis – Fifth Day – Ngày Thứ Năm.
Kim Tinh – Venus – Friday – Dies Veneris – Ngày Thứ Sáu.
Thổ tinh – Saturn – Saturday – Dies Saturni – Ngày Thứ Bảy.
Dương Lịch, lịch theo Thái Dương hệ của La Mã rất ảnh hưởng ngay từ thời bấy giờ và ảnh hưởng mạnh mẻ trong Kitô giáo. Nó minh định rằng: Ngày Chúa Nhật, Ngày thần Mặt Trời, ngày thứ nhất trong tuần, ngày của Chúa. Đó là ngày Chúa sống lại. Đó cũng là ngày mà con người phải thờ lạy Chúa theo như Chúa dạy trong điều răn Thứ Ba. Đó cũng là ngày lễ nghỉ cho mọi người.
Như vậy ngày Chúa Nhật theo Dương Lịch của La Mã đã loại bỏ hay thay thế hẵn ngày Sabbath, tức ngày lễ nghỉ của người Do Thái trong Đạo Cựu Ước. Do Thái Giáo đã cho rằng Công Giáo, vì vấn đề truyền giáo cho dân ngoại tức người La Mã và các nước Âu Châu thời bấy giờ mà loại bỏ truyền thống Cựu Ước, lấy ngày Chúa Nhật, tức ngày thứ nhất trong tuần, thay thế cho ngày Sabbath.
Nếu Chúa Nhật là ngày thứ nhất trong tuần, tại sao lại nằm trong ‘weekend’, tức những ngày cuối tuần bao gồm Thứ Bảy và Chúa Nhật? Tự Điển Webster’s Ninth New Collegiate xuất bản năm 1983 cắt nghĩa: Từ ‘weekend’ được xử dụng năm 1878 tức 132 năm trước để nói rằng: Đó là thời gian của ngày kết thúc tuần làm việc và ngày bắt đầu tuần mới. Như vậy Chúa Nhật vẫn là ngày đầu tuần, ngày Thứ Nhất trong tuần và là ngày Chúa sống lại.
Chúa Giêsu ở trong mộ đá bao lâu? Không tìm thấy một thống nhất trong các tường thuật của Phúc Âm?
Các Phúc Âm Matthêô 28, 1; Matcô 16, 2; Luca 24,1 và Gioan 20,1 đều thống nhất một diểm là: Việc khám phá mồ trống xảy ra vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, tức sáng sớm Chúa Nhật bây giờ. Cách hiểu thông thường: Chúa sống lại vào rạng sáng Chúa nhật.
Như vậy Chúa Giêsu ở trong mồ độ chỉ dài chừng 36 tiếng đồng hồ tức chỉ có 1 ngày rưởi chứ nào có được ba ngày tức 72 tiếng đồng hồ như Chúa nói trong Matthêô 12:40 khi so sánh Chúa bị chôn trong mồ như Giôna ở trong bụng cá ba ngày ba đêm? Nếu tính đủ trọn ba ngày, tức 72 tiếng đồng hồ thì Chúa phải chết vào chiều ngày Thứ Tư, hay sáng sớm Thứ Năm chứ không thể chiều Thứ Sáu được.
Nếu chúng ta đọc các sách Tân Ước như Phúc Âm Matthêô 16:21; 17:23; 20:19; 26:61; 27:40, 64; Matcô 9:31; 10:34; 14:58; 15:29; Luca 9:22; 13:32; 18:33; 24:7, 21, 46; Gioan 2:19, 20; Tông Đồ Công Vụ 10:40; Thư Thứ Nhất Thánh Phaolô gửi Côrintô 15:4. Chúng ta sẽ không thấy nói là: bị giết chết, chôn trong mồ trọn ba ngày rồi sống lại, nhưng tất cả đều nói là “Ngày Thứ Ba, Ngài sẽ sống lại”.
Như vậy Chúa sống lại đúng như lời Ngài tiên báo:
Chúa chết vào ba giờ chiều ngày Thứ Sáu, coi như là ngày thứ nhất. Người ta vội vả chôn cất Chúa cho xong trước khi ngày Vượt Qua, tức ngày Sabbath bắt đầu lúc sáu giờ chiều.
Chúa trong mộ suốt ngày Thứ Bảy, coi như ngày thứ hai Chúa chết.
Ngày thứ nhất trong tuần, tức ngày Chúa Nhật, ngày thứ ba sau khi Chúa chết, Chúa đã sống lại vinh quang.
Cách giải thích khác.
Trong Matthêô 12:40 Chúa chỉ có ý so sánh Chúa ở trong mồ, giống như Giôna trong bụng cá. Giôna là hình ảnh tiền trưng của Chúa Giêsu, để diễn tả việc Chúa chết, chôn trong mồ và sống lại. Chúa so sánh là so sánh sự kiện xảy ra, chứ không phải so sánh thời gian xảy ra của hai sự kiện. Hơn nữa chúng ta được cứu độ nhờ cái chết và sự phục sinh của Chúa. Chuyện Chúa Giêsu bị chôn trong mồ hai ngày, ba ngày hay 1 năm không là yếu tố quan trọng của ơn cứu độ.
Làm sao chứng minh Chúa đã sống lại cho người không tin hay kém tin?
Không khó lắm khi chứng minh cho người đã có đức tin hay có cảm tình với người có đạo về việc Chúa Phục Sinh. Với những người nầy, chúng ta chỉ cần minh chứng Chúa đã sống lại thật với hai lý do:
Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, các phụ nữ khám phá ra mồ trống, khăn liệm và vải liệm xếp gọn ghẽ. Có hai thiên thần trong mộ và bảo là “Ngài không còn đây, Ngài đã sống lại”. Tất cả các Phúc âm đều có tường thuật Chúa Phục Sinh vào “ngày Thứ Nhất trong tuần” nầy.
Chúa Phục Sinh đã hiện ra cho các môn đệ và cho rất nhiều người. Các Phúc Âm đều tường thuật về Chúa Phục Sinh xuất hiện cho Bà Maria Mađalênna, cho hai môn đệ đi về làng Êmau, cho các tông trong căn phòng đóng kín cửa, lần đầu vắng Tôma, lần sau có Tôma, rồi trên bãi biển có cả bếp và than hồng để nướng cá. Đặc biệt, trong Thư Thứ I gửi Giáo Đoàn Côrintô 15:4-8 cũng như trong Tông Đồ Công Vụ 1:22, Phaolô xác tín là Chúa Giêsu Phục Sinh đã hiện ra cho Phêrô, cho các tông đồ và có lúc cho cả đám đông 500 người và cho cả chính bản thân Ông.
Hai viện dẫn trên đều đặt nền trên Kinh Thánh thuần tuý. Nhưng nếu có người yêu cầu bằng chứng từ lịch sử dân sự, chúng ta sẽ trả lời thế nào?
Có một sử gia người Do Thái nổi tiếng thời bấy giờ tên Flavius Josephus, sống sau Chúa Giêsu từ năm 37-100 có minh định trong Jewish Antiquities quyển 18 chương 3 rằng: Dưới thời hoàng đế Roma tên Cêsar, tổng trấn Phongxiô Philatô ở Do Thái, người Do Thái thù ghét một người khôn ngoan, nỗi tiếng trong dân mang tên Giêsu. Họ đã làm áp lực buộc Philatô hành hình, đóng đinh giết chết tên Giêsu. Sau đó Ông sống lại và hiện ra cho các môn đệ. Môn đệ Ông Giêsu đi khắp nơi rao truyền về tên Giêsu, đã chết và sống lại.
Thứ đến là lời giảng dạy và làm chứng của các tồng đồ:
Các Tông Đồ giảng về Ông Giêsu đã chết và đã sống lại, Tông Đồ Côngt Vụ 2:41.
Phêrô và Gioan làm phép lạ nhân danh Đức Giêsu đã chết và sống lại, Tông Đồ Công Vụ 3,11
Trong Tông Đồ Công Vụ 4:20 tường thuật việc các tông đồ không còn sợ giới cầm quyền Do Thái như trước nữa. Các Ngài hiên ngang tuyên bố: phải nghe lời Thiên Chúa hơn là giới lãnh đạo Do Thái.
Tất cả các Tông Đồ bị bắt bớ và bị giết chết vì đã rao giảng Chúa Giêsu, Đấng đã chết và đã sống lại. Nếu đó không là chuyện có thật, ai dám chết cho chuyện gian dối hay bịa đặt? Nếu đó là chuyện gian dối hay bịa đặt, làm sao có thể giữ kín trong suốt hơn hai ngàn năm qua?
II. Thực hành P.Â.:
Chúa Giêsu Phục Sinh vinh quang, Ngài chiến thắng kẻ thù.
Bàì hát tên “Từ trên ghềnh đá” (Philatô đặt Chúa trên bục đá cao được gọi là Gabbatha) cảm hứng từ phiên toà xử Chúa vào sáng Thứ Sáu trong sân dinh tổng trấn Philatô, có điệp khúc như sau:
Từ trên nền đá. Chúa đã nhìn thấy. Nhìn thấy đám dân kêu la. Chúa đã nhìn thấy. Nhìn thầy có con đàng xa. Và khi trông xuống chắc Chúa buồn lắn. Vì thấy đám dân vô ơn. Thế mà Chúa còn muốn thứ tha nhiều hơn.
Kẻ thù của Chúa là Satan, là tử thần, là những người đã âm mưu giết Chúa. Những người đã hò hét “tha Baraba cho chúng tôi! Đóng đinh nó vào thập giá! Đóng đinh nó vào thập giá!” Họ đã thành công, họ đã thở phào nhẹ nhõm, vì Chúa đã bị giết chết.
Nhưng Chúa Phục sinh chiến thắng vinh quang. Không vì Chúa sát phạt hay trả thù được kẻ giết mình. Nhưng vi “Chúa còn muốn thứ tha nhiều hơn!” Chúa chiến thắng vi Chúa không còn kẻ thù. Không ai chết cả nhưng tất cả đã được tha thứ và thành bạn của Chúa. Chúa thu phục cả thế giới thành một gia đình có Chúa là Cha và mọi người là anh em.
Thường người ta hiểu: Chiến thắng có nghĩa là đánh bại kẻ thù hay tiêu diệt kẻ thù. Không bao giờ thành công! Giết chết kẻ thù, nhưng còn bạn bè, dòng họ, con cháu của kẻ thù… Chúa đã chọn cách chiến thắng hay nhất: Biến thù thành bạn. Người ta có thề thù ghét mọi người trừ người thương mình.
Hãy sống như người chiến thắng: Làm bạn với tất cả mọi người hay giao tiếp được với tất cả mọi người. Cuộc đời thật ý nghĩa và thú vị khi có nhiều bè bạn.
Chứng nhân Phục Sinh: An vui
Tôi muốn nói đến niềm vui và sự bình an tâm hồn trong cuộc sống.
Trong lần tham dự Đại Hội Thánh Thể lần thứ 49 được tổ chức ở Québec tháng 6 năm 2008. Chúng tôi có dịp đi thăm những nữ tu ở các đan viện Cát Minh, tức dòng kín ở Danville và Dolbeau-Mistassini. Những nữ tu nầy không còn trẻ, tuổi đời tất cả đã khá cao. Họ đã sống âm thầm nhiều chục năm qua trong tu viện.
Chúng tôi, quen lối sống giao tế xã hội ngoài đời, nghĩ rằng: Những nữ tu nầy chắc buồn chết đi được. Cả ngày không thấy một bóng người qua lại. Những chuyện thường nhật thật buồn tẻ: kinh nguyện nhiều lần trong ngày, rồi thánh lễ, rồi phục vụ chăm sóc người già, người bệnh hay làm những thủ công như thêu đan, khâu vá…
Nhưng không ngờ khi gặp được những nữ tu nầy. Chúng tôi thấy các nữ tu còn yêu đời, vui vẻ, lanh lợi và bình an hơn chúng tôi nhiều. Lý do: Họ hoàn toàn phó thác cuộc đời trong tay Chúa quan phòng, không bon chen, không nói đến chuyện tiến bạc hay giàu nghèo, không tích góp tư lợi hay của cải vật chất… Thật hạnh phúc và bình an. Tôi đã nhận thấy rõ ràng điều đó nơi các nữ tu Cát Minh. Tôi đã cầu cho mình có được niềm vui và bình an như các nữ tu.
Làm sao để có đời sống thật vui vẻ và tâm hồn bình an? Chỉ cần làm những điều các nữ tu dòng kín đang làm:
Cầu nguyện nhiều hơn.
Trao tất cả vào tay Chúa quan phòng.
Dẹp bỏ những bon chen, giành giật hay tranh chấp quyền hành, ảnh hưởng và tiếng khen.
Sống yêu thương, bác ái với mọi người và với hy vọng ngày mai sẽ phục sinh.
Quà chay xin chân thành trao tặng
Giúp Quẳng đi gánh nặng, nợ đời
Cho Tâm linh cơ hội hướng về trời
Mỡ ít, Chay nhiều đời bớt khổ.
Lm. Phêrô Trần thế Tuyên
- dongcong.net