Trầm thiên thu
 

 

HOME

sống mùa chay

- 62b
- Thứ Tư Lễ Tro
-60-trầm thiên thu

-59N
-58N

-57a
-56h
-55ia
-54 chay
-53 chay
-52 chay
-51 chay

 


Thứ tư lễ Tro

Suy Niệm Tin Mừng Thứ tư lễ Tro.
thứ tư lễ tro

1-sống yêu thương
Có một sự kiện rất phổ biến đó là ngày thứ tư lễ Tro, nhà thờ nào cũng đầy ắp những người đến dự lễ, tuy ngày đó chẳng phải là ngày lễ buộc, đàng khác người ta đến không cốt để dự lễ, mà để được xức tro. Ai cũng cố gắng để làm sao có được một chút tro bỏ trên đầu, từ ông già bà cả đến đứa con nít. Không có tro thì như thiếu một cái gì quan trọng. Nhưng nếu hỏi tại sao lại phải bỏ tro lên đầu thì có lẽ không phải ai cũng trả lời được.

Một hiện tượng khác tương tự, đó là chuyện tàu lá trong ngày Chúa nhật lễ Lá. Mọi người phải kiếm cho được một tàu lá đem về giắt đâu đấy trong nhà. Nhưng nếu hỏi tại sao, thì cũng thật khó trả lời.

Và theo truyền thống, thì trong nhiều nhà thờ, những chiếc lá khô của năm trước được giữ lại, đốt thành tro để xử dụng trong ngày lễ tro năm sau. Thế là cái chu kỳ lễ tro và lễ lá, lể lá và lễ tro, trở thành một vòng khép kín.

Tuy nhiên có bao nhiêu người bỏ tro lên đầu mà đã thực sự sám hối và có bao nhiêu người cầm lá trong tay đã thực sự đón Chúa. Đó mới là vấn đề. Đúng là cảnh xé áo chứ không xé lòng mà tiên tri Joel đã lên án. Trong khi đó, lẽ ra người ta không cần phải ưu tiên cho việc bỏ tro lên đầu nhưng phải ưu tiên cho việc sám hối, mà việc bỏ tro chỉ là biểu tượng bên ngoài.

Cũng vậy, vấn đề quan trọng không phải là kiếm cho được một tàu lá trong ngày Chúa nhật lễ Lá, ngày kỷ niệm Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, nhưng là đón Chúa Giêsu hôm nay đang đến với chúng ta trong tha nhân. Nhiều người đi lãnh tro, đi lãnh lá, nhưng cuộc sống của họ trước sau vẫn chẳng có gì thay đổi. Có thể ngay khi từ nhà thờ bước ra, họ đã kênh kiệu, lên mặt đạo đức, khinh ghét người này, hận thù kẻ khác. Có thể ngày đó họ sẽ đi bán hàng, vẫn thói tham lam lừa gạt, tìm cách bóc lột kẻ khác, kể cả những kẻ nghèo khổ. Và ngày lễ lá, sau khi cầm lá đem về, họ sẽ để lá vào trong bình đặt trên bàn thờ, hoặc giắt nó vào đâu đó, làm như bùa hộ mệnh, nhưng không hề nghĩ đến chuyện phải đón tiếp anh em trong cuộc sống hằng ngày: Ai đói cứ đói, ai khát cứ khát, ai không nhà cứ ở ngoài đường, ai trần truồng cứ việc chịu rét lạnh, ai cô đơn cứ việc cô đơn.

Điều còn khó chấp nhận hơn nữa, đó là người ta sẵn sàng ăn chay hãm mình để cầu nguyện cho những kẻ nghèo đói, làm như thể cứ ăn chay là kẻ đói sẽ no, cứ hãm mình là người nghèo trở nên giàu.

Trong khi mà đáng lẽ ra họ cần phải chia sẻ cơm ăn áo mặc cho người nghèo đói hơn là ăn chay hãm mình mà chẳng cho người nghèo đói được một chút cơm thừa canh cặn. Ấy vậy mà những kẻ ăn chay hãm mình, nhưng không chia sẻ cho người nghèo đói vẫn được tiếng là những người đạo đức. Họ giống hệt như ông Tư tế và thày Lêvi ở đền thờ về, khi trông thấy đồng bào mình bị đánh trọng thương nằm ở vệ đường, lại tránh qua bên kia mà đi, không thèm ngó tới. Đó là những kẻ giữ đạo hình thức. Cứ nhìn hiện tượng bên ngoài thì họ là những kẻ nhiệt thành, đạo đức. Họ là những người tự nghĩ mình trung thành với Chúa, bằng việc thực hành mọi nghi thức, mọi thói quen của đạo, nhưnglại không sống cái gì là chính yếu, là bản chất của đạo, đó là thực hành bác ái. Họ không hiểu rằng Thiên Chúa của chúng ta là Đấng muốn lòng nhân từ chứ không cần lễ tế, cùng với tất cả mọi nghi thức…Chính Ngài đã nói như thế qua tiên tri Isaia.

Khi nhìn vào đời sống của Đức Kitô, chúng ta thấy rõ Ngài là hiện thân của Thiên Chúa tình thương, chứ không phải là Thiên Chúa của lễ tế hay của những luật lệ và nghi thức của đền thờ. Trong ba mươi năm trước khi rao giảng Tin mừng, thì Ngài đã sống Tin mừng ấy bằng cách chia sẻ trọn vẹn đời sống bình thường hằng ngày với bà con lối xóm. Từ khi bắt đầu rao giảng Tin mừng, Ngài cũng ưu tiên dành thời gian và sức lực cho việc chữa bệnh và chăm lo cho mọi người, kể cả việc lo cho người ta ăn uống khi cần. Ngài không đặt nặng vấn đề ăn chay, hay giữ luật ngày Sabát theo tinh thần Do Thái, mà lấy con người làm cứu cánh của lề luật. Ngài chỉ dâng lễ tế có một lần và chỉ một lần là đủ, bởi vì Ngài không thể chết hai lần, nên cũng không thể dâng mình làm lễ tế lần thứ hai. Do vậy mà tất cả lệnh truyền mới của Ngài, thay thế cho lề luật cũ chỉ tóm gọn trong câu: Anh em hãy yêu thương nhau, như chính Thầy đã yêu thương anh em.

Ga. Thanh Phuong

 

TRẦN AI ĐAU KHỔ (LỄ TRO – 13/02/2013) 

Nói đến Tết là nói đến câu đối (“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”). Hôm nay là Mồng Bốn Tết, xin kể một đôi câu đối hoàn chỉnh, nhưng lại không được làm ra vào dịp Tết, mà vào một thời điểm chính trị đặc biệt giữa 2 chế độ: Nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Đôi câu đối này rất hay cả về từ ngữ lẫn tư tưởng: Khi Ngô Thời Nhiệm (còn gọi là Ngô Thì Nhậm) làm Binh Bộ Thượng Thư đời Tây Sơn, thì Đặng Trần Thường khúm núm đến xin được tiến cử, bị Ngô Thời Nhiệm thét đuổi: “Ở đây cần người có tài có đức giúp vua trị nước an dân. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác”. Sau khi nhà Tây Sơn mất, Đặng Trần Thường làm quan dưới triều nhà Nguyễn (Gia Long), bắt được Ngô Thời Nhiệm, liền ra câu đối mỉa mai: “Ai công hầu, ai khanh tướng, cuộc trần ai ai dễ biết ai” (ngụ ý: “hồi đó anh làm quan trong triều Tây Sơn làm nhục tôi, bây giờ anh bị tôi bắt làm tù binh, vậy thì cuộc đời này ai dễ biết ai hơn ai kém ai?”). Ngô Thời Nhiệm khẳng khái đáp lại: “Thế Chiến quốc, thế Xuân thu, gặp thời thế thế thời phải thế” (ngụ ý: “Thời thế nào có anh hùng nấy, hồi đó tôi làm quan, anh đến khúm núm năn nỉ xin việc, nay anh làm quan, tôi là tù binh của anh, thì anh cứ việc ra tay”). 

Phải công nhận một điều là Ngô Thời Nhiệm đối rất chỉnh cả về tư tuởng (đối ý) lẫn về từ ngữ (đối lời) và đó chính là một cái tát cực mạnh khiến Đặng Trần Thường căm tức dùng roi tẩm thuốc độc đánh Ngô Thời Nhiệm cho đến chết. Ở đây, xin không bàn về tư tưởng, chính trị hay quân sự, mà chỉ xin đề cập đến vấn đề chơi chữ rất độc đáo của đôi câu đối sử dụng biện pháp nghệ thuật “điệp từ”: Ở vế ra có 5 chữ “ai” viết giống nhau (ai: 埃) thì 4 chữ “ai” thuần Việt (ai công hầu, ai khanh tướng, ai dễ biết ai) đều là phiếm chỉ đại danh từ (chỉ trống, nói bóng gió), riêng chữ “ai” trong từ “trần ai” lại là danh từ cùng nghĩa là bụi bặm như từ “trần” và cả 2 ghép lại thành danh từ kép “trần ai” (塵 埃 : bụi bặm, nghĩa bóng là cuộc đời cát bụi). Cũng vậy, ở vế đối có 5 chữ “thế” viết giống nhau (thế: ) thì 4 chữ “thế” thuần Việt (thế Chiến quốc, thế Xuân thu, thế thời phải thế) chỉ là định ngữ hoặc từ đệm, riêng từ Hán Việt “thời thế” ( : tình hình, xu thế của thời đại) lại là một danh từ kép. Đó là nghệ thuật chơi chữ (jeu des mots) độc đáo của cổ nhân. 

Sở dĩ kẻ viết bài này dài dòng văn tự về vấn đề từ ngữ của đôi câu đối là có nguyên nhân, vì đang bận tâm suy nghĩ về nghi thức xức tro trong Lễ Tro mở đầu mùa Chay Thánh. Nghi thức này cốt ý nhắc nhở các tín hữu: “Hỡi người! Hãy nhớ mình là bụi tro, một mai rồi sẽ trở về bụi tro…” (“Hỡi người” – TCCĐ). Nhưng tại sao lại có quan niệm đó? Quả thực cuộc sống con người trôi nổi phù phiếm (phù thế nhân sinh: 蜉 世 人 生) chẳng khác gì cát bụi (trần ai: 塵 埃). Ngoài “trần ai”, còn có “trần thế: 塵 ”, “trần gian: 塵 間 ”, “trần hoàn: 塵 寰 ”, “hồng trần: 紅 塵 ” ... đều chung một nghĩa: cuộc đời cát bụi. Vì thế nên mới gọi cõi trần ai, cõi trần thế, cõi hồng trần, hoặc vắn tắt hơn: Cõi trần, cõi thế... Vâng, “Cuộc sống con người nơi dương thế, chẳng phải là thời khổ dịch sao?” (G 7, 10) và vì thế cuộc đời được coi là bể trầm luân, bể khổ (“Đời là bể khổ”), nên khi con người quá đau khổ thường than vãn mình lâm cảnh “trần ai đau khổ, kêu trời chẳng thấu!”. Điều này không phải chỉ do con người tự bi thảm hoá cuộc sống mong manh, đau khổ của mình, mà còn được chính Ông Trời khẳng định “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất" (St 3, 19).  

Mùa Chay bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro qua nghi thức xức tro. Tro là bụi bặm, mà thân xác con người được tạo thành từ bụi đất (“Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” – St 2, 7), nên khi thân xác hư nát sẽ trở về đất cát bụi tro. Ấy cũng bởi vì Nguyên tổ loài người nghe lời xúi giục của ma quỷ mà vi phạm giới luật, nên Thiên Chúa đã phán: “Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất." (St 3, 19). Tổ phụ Ap-ra-ham cũng đã thưa với Chúa: “Con chỉ là thân tro bụi” (St 18, 27), ngụ ý thân xác mình được tạo thành từ tro bụi thì khi chết cũng trở về bụi tro mà thôi. Còn tiên tri Giê-rê-mi-a thì mô tả cái chết là “thung lũng tử thi và tro thiêu xác” (Gr 31, 40). Quả đúng là “thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống vì lo nghĩ trăm bề.” (Kn 9, 15). 

Đó là lý do giải thích tại sao trong Cựu Ước có thói quen dùng tro để thực hành khổ chế trong cách ăn chay hãm mình để làm đẹp lòng Thiên Chúa, như ngôn sứ I-sai-a đã viết: “Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế? Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Đức Chúa?” (Is 58, 5). Có thể đọc thấy ý nghĩa này trong rất nhiều sách Kinh Thánh Cựu Ước (Gr 6, 26; Is 58, 5; Đn 9, 3; Gn 3, 6; Gđt 4, 11-15.9, 1; Mcb 3, 47…). Sang đến Tân Ước, thì chính Đức Giê-su khi quở trách các thành (Kho-ra-din, Bết-xai-đa) đã chứng kiến nhiều phép lạ Người làm mà không chịu ăn năn hối cải, Người đã nhắc đến việc dùng vải thô và tro để biểu thị sự sám hối: “Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, họ đã mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối” (Mt 11, 21; Lc 10, 13). 

Dựa theo truyền thống đó, Giáo Hội thiết lập Phụng Vụ Mùa Chay. Theo “Normae de Anno liturgico et Calendario” (Những Quy luật tổng quát về Năm Phụng vụ và Niên lịch) thì “Phụng Vụ Mùa Chay nhằm giúp các dự tòng và các tín hữu chuẩn bị cử hành Lễ Vượt Qua. Các dự tòng được chuẩn bị qua những giai đoạn khác nhau của việc nhập đạo, còn các tín hữu thì qua vịêc tưởng niệm bí tích Thánh Tẩy và việc sám hối” (AC 27). Như vậy thì có thể hiểu Mùa Chay là mùa toàn Giáo Hội thực hiện đời sống chay tịnh (thanh tẩy + sám hối), chuẩn bị tâm hồn đón mừng Chúa Phục Sinh. Sống chay tịnh không chỉ giới hạn trong việc “ăn chay” (Từ nguyên: “ăn không dùng thịt, cá và các chế phẩm từ thịt, cá”), mà còn bao gồm sống ngay thẳng, thật thà (nên tục ngữ VN mói có câu “Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối”) và nhất là sống tinh thần bác ái Ki-tô Giáo. Tuy nhiên, theo thói quen, người ta thường dùng tiếng ăn chay để chỉ việc hãm mình ép xác, tu thân tích đức. Vì thế, cứ tới Mùa Chay là ai cũng nghĩ tới việc ăn chay. Vấn đề đặt ra là phải suy nghĩ xem nên ăn chay như thế nào cho đúng tinh thần Ki-tô giáo, đúng tinh thần Phúc Âm. 

Tìm hiểu ý nghĩa và mục đích việc ăn chay trong Thánh Kinh thấy rất đa dạng: Các tín hữu ăn chay là để thờ phượng Thiên Chúa, làm đẹp lòng Thiên Chúa như một nghi thức tôn giáo, một việc đạo đức; để được Thiên Chúa nhậm lời khi cầu nguyện, đi kèm với cầu nguyện để khu trừ ma quỷ; để tỏ lòng ăn năn, sám hối và đi kèm với than khóc để bày tỏ sự buồn bã, hối hận, thương tiếc, lo sợ; đồng thời để đền vì tội lỗi đã phạm, cầu xin Thiên Chúa tha tội. Thật không thể ngờ cách đây hơn 2500 năm, ngôn sứ I-sai-a đã có một quan niệm rất mới về ăn chay: Ăn chay với mục đích đầy tính nhân đạo là thực hiện công bằng và bác ái (“Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục” – Is 58, 6-7). Với mục đích ấy, ngôn sứ I-sai-a lên án cách ăn chay chuộng hình thức bề ngoài mà thực chất bên trong chỉ lo kiếm lợi cho mình, áp bức kẻ khác, ăn chay để  “mồm loa mép giải” cãi vã, hoặc “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” đánh lộn tàn bạo (“Này, ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho mình. Này, các ngươi ăn chay để mà đôi co cãi vã, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn.” – Is 58, 3-4). 

Dùng vải thô và xức tro lên đầu là những hình thức bên ngoài biểu lộ tâm tình ăn năn sám hối bên trong. Nhưng nếu chỉ thực hành như kiểu phô trương “ra vẻ ta đây”, mà trong lòng vẫn “lo kiếm lợi…, áp bức bóc lột…, đôi co cãi vã…, đánh đấm bạo tàn…”, thì cũng kể như không. Như vậy là đã rõ, ăn chay cốt yếu là một việc làm trong nội tâm hơn là việc thể hiện ra bên ngoài. Ăn chay cần kín đáo chứ không cần phô trương (“Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.” – Mt 6, 16-18) 

Ăn chay phải là “Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em” (Ge 2,13). Điều quan trọng là ăn năn hối cải (xé lòng) trở về với Thiên Chúa, hơn là hình thức phô trương bên ngoài (xé áo). Nói như thế không có nghĩa là không cần ăn chay mà chỉ cần đối xử với nhau cho có tình nghĩa, hay chỉ cần thực hiện công lý và bác ái thôi. Thiên Chúa muốn rằng “các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ” (Mt 23, 23). Vì hình thức và nội dung phải đi đôi và gắn kết với nhau: cả hai phải vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau. Vì thế, khi ăn chay, chúng ta vừa ép xác (nhịn ăn hoặc ăn ít) để thực hiện sự khổ chế, đồng thời phải thực hiện nội dung là hãm mình (tránh xa mọi chuớc cám dỗ, sám hối mọi lỗi lầm, và nhất là thực thi những “chứng tá bác ái”). Điểm cần lưu ý là “Nội dung quyết định hình thức và chỉ có nội dung thiện hảo mới làm cho hình thức thể hiện bên ngoài có giá trị”. Nếu chỉ có hình thức bên ngoài, thì hình thức đó hoàn toàn vô giá trị. 

Mùa Chay Thánh năm nay còn mang một ý nghĩa đặc biệt: Đó là năm toàn thể Giáo Hội sống Đức Tin, với “mong muốn rằng Năm Ðức Tin khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng đức tin trọn vẹn và với xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng” (Tông thư “Porta Fidei”, số 9). Muốn tuyên xưng đức tin trọn vẹn thì cần phải biết “ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15). Ăn chay hãm mình chính là thực hành việc ăn năn sám hối, nhưng cần phải xác tín là thông qua việc làm thiết thực ấy, con người của mình phải được đổi mới toàn diện trong niềm tín thác và hy vọng vào Tin Mừng Cứu Độ. Kiên định với niềm tin ấy, “ước gì Năm Ðức Tin này làm cho quan hệ với Chúa Ki-tô ngày càng vững chắc hơn, vì chỉ trong Ngài mới có sự chắc chắn để hướng nhìn về tương lai và bảo đảm một tình yêu chân thực và lâu bền.” (T/thư “Porta Fidei”, số 15). Và vì thế, "Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, - vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự. Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người." (1Pr 1, 6-9). 

Tóm lại, Việc cử hành Mùa Chay, trong bối cảnh của Năm Đức Tin cho chúng ta một cơ hội quý báu để suy niệm về mối quan hệ giữa đức tin và đức ái: giữa việc tin vào Thiên Chúa, Thiên Chúa của Đức Chúa Giêsu Kitô, và tình yêu, là hoa quả của tác động của Chúa Thánh Thần, và là điều hướng dẫn chúng ta trên con đường tận hiến cho Thiên Chúa và cho tha nhân.” (Lời mở đầu Sứ điệp Mùa Chay 2013 của ĐTC Biển Đức XVI), người Ki-tô hữu hãy ăn chay nhiều hơn, thậm chí ăn chay trong suốt cả lộ trình trần thế, bằng cách ăn năn sám hối vì tội lỗi đã mắc phạm với Thiên Chúa, với anh em; đồng thời thực hành đúng Lời Chúa dạy: “Gặp anh em đói thì cho ăn, khát thì cho uống, anh em là khách lạ thì tiếp rước tử tế, anh em trần truồng thì cho mặc, đau yếu thì tới viếng thăm, bị tù đày thì hỏi han chia sẻ” (Mt 25, 35-37). Muốn được vậy, “hãy phó thác thời điểm hồng phúc này cho Mẹ Thiên Chúa, được tuyên xưng là "người có phúc" vì Mẹ “đã tin” (Lc 1, 45), như lời kết trong Tông thư “Porta Fidei”.  

Ôi! Lạy Chúa! Xin ban Thần Khí soi sáng và hướng dẫn con, để con có thể “sống và lớn lên trong Tình Yêu Chúa” ngõ hầu chia sẻ Tình Yêu này cho tha nhân, như lời dạy của ĐTC Biển Đức XVI trong Sứ điệp Mùa Chay 2013 (số 3): “Tóm lại, tất cả phát xuất từ Tình Yêu và hướng về Tình Yêu. Tình Yêu nhưng không của Thiên Chúa được truyền đạt cho chúng ta qua việc rao giảng Tin Mừng. Nếu chúng ta chào đón Tình Yêu này bằng đức tin, chúng ta nhận được sự tiếp xúc đầu tiên và cần thiết với Thiên Chúa, làm cho chúng ta có thể “yêu Tình Yêu”, để rồi chúng ta có thể sống và lớn lên trong Tình Yêu này và vui mừng truyền thông Tình Yêu này cho những người khác.” Ôi! “Lạy Chúa, ngày hôm nay, tất cả chúng con ăn chay hãm mình, để bước vào mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng. Xin giúp chúng con hằng biết sống khắc khổ, để ngày thêm vững mạnh mà chiến thắng ác thần. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ Lễ Tro). 

JM. Lam Thy ĐVD.

 

 

THẾ NÀO LÀ ĂN CHAY ?

“Cách ăn chay mà ta ưa thích chẳng phải là thế này sao :
mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc,
trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm ?

Chẳng phải là chia cơm cho người đói,
rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ ;
thấy ai mình trần thì cho áo che thân,
không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục ?”.
(Is 58, 5 – 7)

Đó là lời Chúa Tạ ơn Chúa.

 Tạ ơn Chúa vì con đang tìm một lời giải đáp,
tạ ơn Chúa vì con đang ở giữa những nẻo đường,
tạ ơn Chúa vì lời tiên tri đã đoan quyết,
tạ ơn Chúa vì con đã rõ đường con đi.

 Lm. Vinh Sơn Phạm Trung Thành, dcct.
24/02/2012 Thứ Sáu sau lễ Tro

 

BỤI (suy tư lễ tro)

Hôm nay dọn nhà cửa cùng anh em trong nhà, đúng như lời của các cụ nói: “Nhà sạch thì mát”, cũng vui vì có cảm giác căn nhà thơm mát hơn khi được lau chùi sạch sẽ những bụi bặm của sinh hoạt hàng ngày.

Tự nhiên cảm giác mát mẻ của căn nhà làm mình nghĩ đến căn nhà quan trọng hơn, đó là căn nhà tâm hồn của mình.  Mỗi lần khi đi đến tòa giải tội về lòng mình vui vui và cảm thấy nhẹ nhõm biết bao nhiêu.  Cảm giác đó giống như mình vừa trút bỏ một thứ gì đó đang giam hãm tâm hồn vậy.  Chắc hẳn ai cũng vậy thôi, ai cũng muốn cái ngôi nhà mình đang sống luôn sạch sẽ thơm mát như vậy sẽ là một chỗ nghỉ ngơi tuyệt vời sau những phút căng thẳng với việc học, với công việc mưu sinh hằng ngày.  Nói đến đây bỗng mình nhớ lại trích đoạn trong thư thứ nhất của Thánh Phaolo gửi cho các tín hữu Cô-rin-tô như sau: “Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền thờ của Chúa Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế anh em đâu còn thuộc về chính mình nữa, vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em.  Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1 Cr 6, 19-20). Vậy nếu chúng ta luôn muốn sống trong căn nhà sạch sẽ thơm mát thì Chúa cũng vậy.  Ngài cũng muốn thân xác chúng ta luôn ngát hương như thế, vì như Thánh Phaolo khẳng định, thân xác chúng ta là Đền thờ của Chúa Thánh Thần mà.  Nếu thật sự tin rằng thân xác mình là Đền thờ của Chúa sao mình vẫn để bụi bặm là những tội lỗi giăng vào Đền thờ của Chúa nhỉ?  Căn nhà vật chất kia mình lười dọn dẹp thì xung quanh còn có những người anh em rất thương mến kia dọn dẹp dùm.  Còn ngôi nhà tâm hồn thì chắc chắn là tự mình phải dọn dẹp lấy rồi.  Nếu không chắc tội nghiệp Chúa lắm vì Ngài cứ phải ngự trong ngôi nhà tâm hồn đầy bụi bặm của mình.

Lạy Chúa con biết tình yêu của Chúa vô bờ, Người ôm lấy con, yêu con, thương con nên chấp nhận cả yếu đuối của con để tha thứ, để nâng đỡ, luôn mong cho con không lạc bước vào cạm bẫy của kẻ thù là: Ma quỷ, thế gian và xác thịt.  Chúa không muốn con đơn độc chiến đấu với ba thù đó vì vậy ân sủng của Chúa chính là vũ khí chiến đấu hữu hiệu nhất mà con có.  Con xin mượn lời của Chân phước Gio-an Phao-lô II yêu mến của Chúa như một lời tâm tình với Thiên Chúa của con: “Hãy trở nên dễ dạy trước tiếng mời gọi của Thánh Thần Thiên Chúa, hãy để cho những kỳ vọng lớn lao của Giáo Hội và của nhân loại vang động nơi thẳm sâu tâm hồn của các con.  Đừng sợ hãi mở rộng lòng trước Đức Ki-tô khi được Ngài kêu gọi.  Hãy cảm nhận cái nhìn yêu thương của Ngài trên các con và hãy nhiệt tình đáp trả lại lời mời gọi, hãy tiếp bước theo Ngài cách mạnh mẽ” (Pastores Dabo Vobis, số 82).

Dom Stone

 

GỢI Ý SUY NIỆM LỜI CHÚA
Thứ Tư Lễ Tro
Mt 6 1-6.16-18

Hôm nay, Giáo Hội mời chúng ta vước vào Mùa Chay thánh.

Giáo Hội sẽ xức tro trên đầu chúng ta và nhắc nhở chúng ta đến thân phận bụi tro của chúng ta. Đây không chỉ là một lễ nghi để trình diễn mà là một nhắc nhớ cần thiết.

Thân phận chúng ta là tro bụi. Điều nầy ai cũng biết, nhưng biết để biết chứ không phải để sống. Con người có làm gì đi nữa cũng không thể thoát khỏi thân phận tro bụi của mình. Từ khi con người có mặt trên mặt đất, họ chỉ làm được có một việc duy nhất mà thôi là nằm xuống, xuôi tay và tan rã.

Có một số người đã làm nên những việc mà ngày nay người ta vẫn còn nhắc nhớ, họ còn để lại một vài dấu vết, rồi cũng theo thời gian haon mòn và tan rã.

Kinh Thánh đã nói: “ Hư vô trên hết mọi hư vô. Tất cả chỉ là hư vô”.

Tại sao người ta trùng tu những di tích cổ ? Vì nó đã hao mòn.

Một trận động đất, một cơn sóng thần, một cuộc hỏa hoạn, tất cả đều tiêu tan. Thực tế cho chúng ta thấy mọi sự đều mong manh, chúng ta cũng mong manh. Chỉ có Thiên Chúa tồn tại. Chỉ có những gì thuộc về Chúa mới tồn tại và có ý nghĩa.

Đó là điều Chúa Giêsu dạy chúng ta hôm nay. Những việc lành chúng ta làm chỉ có ý nghĩa khi nó quy hướng về Chúa. Chúa Giêsu đã cho chúng ta một vài vì dụ điển hình: ăn chay, cầu nguyện, bố thí… chỉ có ý nghĩa khi chúng ta làm vì Chúa,vì yêu mến Chúa, vì vinh danh Chúa mới có giá trị: “ Cha trên trời, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn, sẽ trả lại cho chúng con”.

Làm việc thiện vì hư danh, chẳng là gì cả, có chăng là được một vài lời khen ngợi của con người… sẽ đem lại được gì ?

Mùa Chay thánh, Giáo Hội hướng chúng ta về với Chúa, mời gọi chúng ta sống cho Chúa, trở về với Chúa là thực tại không tàn phai, không theo thời gian tan rã. Chúa lại là nguồn hạnh phúc của chúng ta. Thánh Phaolô dạy chúng ta: “ Đừng theo thói thế gian”.

Thế gian phô trương, Chúa dạy chúng ta khiêm tốn, chỉ cần đẹp lòng Cha trên trời  mà thôi.

Theo tâm lý thường tình, khi làm việc lành, chúng ta cứ sợ người ta không biết. Chúng ta cần một tiếng khen, mà quên rằng Cha trên trời ngợi khen mới đáng giá, vì chỉ có Cha trên trời mới có thể ân thưởng cho chúng ta; những phần thưởng của loài người cũng chỉ là rơm rác thôi.

Mùa Chay thánh, Giáo Hội kêu gọi chúng ta trở về với Chúa qua lời tiên tri: “ Hãy xé lòng chứ đừng xé áo…” Vì chúng ta cần trở về. Chúng ta có lẽ đã đi quá xa trên con đường trần gian đến nỗi Chúa chỉ còn là một bóng dáng xa xôi mờ ảo thôi.

Đọc kinh, dự lễ… chúng ta vẫn làm, nhưng hình như những lời kinh của chúng ta không còn vẻ tươi sáng và lắm lúc trở nên máy móc.

Trở về với Chúa. Chính Chúa mời gọi chúng ta và không trừ ai. Không phải chỉ có những người ngập chìm trong tội mới cần trở về, mà cả những người tưởng mình không có tội gì. Nhiều người lầm tưởng rằng Chúa chỉ mời gọi những người nguội lạnh lâu ngày, còn tôi không cần phải trở về vì tôi vẫn là đứa con ngoan trong nhà Cha tôi.

Trong dụ ngôn người con hoang đàng mà ai cũng biết, Chúa cho chúng ta thấy, đứa con hoang đàng mang lại niềm vui khi nó trở về, còn đứa con ngoan lại gây bức rứt.

Niềm vui của Chúa là nhìn thấy con mình trở về. Chúng ta cần trở về vì nhiều hay ít, chúng ta không đẹp lòng Cha, chúng ta vẫn chưa yêu mến Cha như Cha mong muốn.Thánh Phaolô, cũng như các tiên tri cũng kêu gọi chúng ta trở về: “ Nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa…”

Làm hòa với Thiên Chúa ?

Phải chăng chúng ta đã phản kháng, đã bất tuân, đã bội bạc ? Đúng thế, chúng ta luôn đi ngược đường lối Chúa, chúng ta làm những điều không thích hợp với Chúa. Phải làm hòa với Chúa vì chỉ có Chúa là sự sống, bình an và hạnh phúc.

Xin đừng để chúng con lạc xa đường Chúa”, Thánh vịnh dạy chúng ta cầu nguyện như thế. “ Tôi luôn làm theo ý Cha”: Chúa Giêsu dạy chúng ta như thế.

Con đường hạnh phúc là con đường Chúa Giêsu đã đi, dù nó dẫn tới cái chết thê thảm trên thập giá, nhưng nhờ đó, chúng ta đạt tới miền đất hạnh phúc mà  thế gian không thể tạo ra được.

Trở về với Chúa, giao hòa với Chúa đòi hỏi chúng ta từ bỏ. Từ bỏ con đường cũ, con người cũ như thánh Phaolô đã dạy.

Không thể đi xa nếu mang nặng.

Chúng ta mang nặng những thói đam mê xấu xa, những hận thù ghen ghét… không ích lợi gì mà chỉ gây kiệt sức: “ Hãy mang lấy ách Ta, vì ách Ta nhẹ nhàng,… Ta sẽ bổ sức cho”.

Từ bỏ ách nô lệ tội lỗi để mang ách nhẹ nhàng của Chúa, của tình yêu. Chúng ta có quyền chọn lựa.

Hôm nay, Giáo Hội khai mạc long trọng Mùa Chay thánh, là khai mở con đường hạnh phúc. Mùa Chay mời gọi chúng ta đồng hành với Chúa Kitô, đến với ánh sáng và niềm vui, từ bỏ vùng tối tăm tội lỗi để đạt đến ánh sáng phục sinh.

Con đường của Mùa Chay không phải là con đường gấm hoa mà là con đường khổ nạn, nhưng có khổ nạn mới có phục sinh vinh hiển.

Phải bỏ mình, vác thập giá, chúng ta có can đảm theo Chúa không ?
Con người không là một thiên thần. Chúng ta có xác, và xác thịt chính là một vần đề vì ảnh hưởng của tội. Chúng ta không thể chối bỏ thân xác, cũng không thể lệ thuộc nó, nhưng phải khôn ngoan sử dụng. Thân xác là một hồng ân quí báu, nhưng cũng là một chướng ngại. Thánh Phaolô là một con người thánh thiện mà vẫn rên siết vì cái khối nặng nề của nó. Để có thể chế ngự thân xác, Giáo Hội khuyên chúng ta ăn chay. Tuy một năm chỉ có hai ngày ăn chay. Đây là một nhắc nhớ, cũng là một nhắc nhớ cần thiết, giúp chúng ta ý thức rằng cần phải chế ngự thân xác, đưa nó về con đường trong sáng và tự do.

Chúng ta đang sống trong một xã hội duy vật và vô đạo. Người ta tìm hết mọi cách để thỏa mãn những ước muốn của thân xác, vì người ta không biết có linh hồn.

Ách nô lệ của thân xác là một ách nô lệ nặng nề nhất, nhưng người đời vẫn vui vẻ sống trong nô lệ. Xem ra họ vui vẻ đấy, nhưng trong thực tế, chẳng vui vẻ gì mà lại phiền toái, chán buồn.Trong thế giới  đầy tiện nghi và thú vui hôm nay, các nhà xã hội học đã nhận thấy rằng số người tự tử càng ngày càng nhiều mà, lạ lùng thay, trong những nước giàu có nhất lại đạt tỉ lệ cao nhất !

Người công giáo không phủ nhận những nhu cầu của thân xác, nhưng luôn ý thức rằng, thân xác không là tất cả, còn cái gì cao quí hơn.

Thánh Phaolô khuyên nhủ chúng ta biến thân xác chúng ta thành của lễ đẹp lòng Chúa, biến nó thành đền thờ của Chúa Thánh Thần. Chúng ta phải đạt đến miền đất thênh thang của tự do, không bị thân xác khống chế. Những ai biết kềm chế thân xác mình mới nếm được niềm vui của tự do.

Hơn nữa, chúng ta là con Thiên Chúa Tình Yêu. Mùa Chay thánh là thời gian để sống yêu thương. Chính Chúa, qua lời của tiên tri Isaia đã chỉ rõ ăn chay là yêu thương những người yếu kém nghèo đói, nâng đỡ những người đau khổ…

Bớt tiêu phí, bớt mua sắm để giúp anh chị em nghèo khổ là một hình thức chay tịnh đẹp lòng Chúa.

Mùa Chay thánh là tiếng gọi của Chúa,kêu mời chúng ta nên thánh, rũ bỏ nếp sống nặng nề vật chất của chúng ta để giải phóng mình khỏi ách nô lệ tội lỗi: “ chết đối với tội lỗi để phục sinh trong ân sủng”.

Con đường hạnh phúc là chính con đường Chúa Giêsu đã đi. Không thể hạnh phúc nếu không bước vào con đường thập giá nầy. Không có cái chết của thứ Sáu Tuần Thánh, sẽ không bao giờ có ngày phục sinh vinh hiển.

Đi trên con đường đến hạnh phúc đích thực không dễ dàng. Dân Do thái đã đi trong sa mạc bốn mươi năm mới đạt đến miền Đất Hứa… chúng ta sẽ đi trong sa mạc trần gian nầy bao nhiêu năm nữa ?

Bốn mươi năm sa mạc, Chúa nuôi dân Chúa bằng manna, trên đường lữ thứ cam go của chúng ta, Chúa Giêsu vẫn nuôi chúng ta  không chỉ bằng  của ăn hay hư nát mà bằng chính Thịt Máu Chúa: “ Hãy cầm lấy mà ăn”.Chúng ta có thấy hạnh phúc của chúng ta không ?

Hãy ăn lấy Ngài, chết với Ngài, hôm nay và cho đến hơi thở cuối cùng, ánh sáng phục sinh sẽ chan hòa trên chúng ta.

Linh mục Trầm Phúc.

 

Ý NGHĨA CỦA TRO
Mj. Trương Luận, CSsR

Hàng năm, mỗi người Công Giáo đều đến tham dự Thánh Lễ vào Thứ Tư đầu Mùa Chay. Còn được gọi là Thứ Tư Lễ Tro.

“Tro” có ý nghĩa gì đối với con người? Có liên quan gì đến đời sống Đức Tin người Công Giáo chúng ta? Và tại sao lại phải xức “tro” trên trán?

Từ ngàn xưa vào thời Cựu Ước, “tro” đã mang hai ý nghĩa nhắc nhớ con người phải biết sống như thế nào. Thứ nhất, “tro” tượng trưng cho “sự thống hối ăn năn” và thứ hai, cho “đời sống khiêm nhường.”

Trong sách Sáng Thế 18:27, chúng ta nghe Abraham tự thú nhận: “Này tôi quả đường đột thưa với Chúa tôi – tôi chỉ là tro bụi.”

Về sau vào thế kỷ thứ 4 Công Nguyện, Giáo Hội mới bắt đầu dùng tro trong các nghi thức phụng vụ. Trong thời điểm này, những kẻ tội lỗi và hối nhân rắc tro trên thân mình. Họ bị trục xuất ra khỏi cộng đoàn trong một thời gian ngắn để thống hối ăn năn vì những trọng tội họ đã phạm – như tội phản đạo, chối đạo, sát nhân và ngoại tình.

Đến thế kỷ thứ 7, nghi thức thống hối này đã biến dạng và được áp dụng vào ngày Thứ Tư Lễ Tro. Kẻ có tội phải mặc áo nhặm và xức tro trên mình. Đồng thời, phải sống xa gia đình suốt cả Mùa Chay. Những người này không được bước vào Nhà Thờ và cũng không được nói chuyện với bất cứ một ai. Họ phải làm việc đền tội, cầu nguyện và ngủ dưới đất hoặc trên rơm và cũng không được tắm rửa hoặc cắt tóc cạo râu. Vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh, những hối nhân này được ban ơn xá giải và trở về với gia đình.

Truyền thống này bắt đầu phổ biến và được áp dụng cho toàn thể Giáo Hội hoàn vũ vào thế kỷ thứ 11 – dưới triều đại của Đức Thánh Cha Urbanô đệ II.

Ngày nay, vào mỗi Thứ Tư Lễ Tro, các linh mục dùng tro gạch dấu thánh giá trên trán của bản thân mình và từng giáo hữu. Tro này chính là tro của những chiếc lá vạn tuế của Lễ Lá năm trước đã được đốt đi. Tro nhắc nhở các giáo hữu về thân phận con người. Con người được dựng nên từ bụi tro. Tro được sức lên trán để khắc ghi vào tâm trí thực tại cát bụi của con người chúng ta. Vì vậy, khi dùng tro ghi dấu Thánh Giá trên trán, linh mục sẽ đọc: “Ta là thân cát bụi – sẽ trở về cát bụi” (St 3:19) hoặc “Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng” (Mc 1:15).

 THẾ THÌ “MÙA CHAY” và “LỄ TRO” CÓ LIÊN CAN GÌ ĐẾN TÔI?

Lá vạn tuế năm trước được đốt đi thành tro là một dấu chỉ thích đáng cho ý nghĩa của Mùa Chay. Lá vạn tuế năm trước được đốt đi cốt ý mời gọi mỗi một tín hữu chúng ta phải nhìn lại cuộc sống của chúng ta trong năm qua. Ta phải xét lại những thói hư tật xấu, cách cư xử và thái độ sống của mình đối với tha nhân. Ta phải thiêu đốt tất cả những gì xấu xa tội lỗi của ta thành tro bụi và quyết tâm tu sửa cuộc đời mình.

Đồng thời, ta cũng cương quyết theo gương Chúa Giêsu bước vào sa mạc cát bụi để đối diện kẻ thù của mình – chính là Satan. Satan hằng luôn xúi dục ta chiều theo tính đam mê xác thịt, ham hố quyền hành và tham lam tiền của. Nhìn nhận mình là bụi cát, ta noi gương Chúa Giêsu sống tín thác, tự khiêm và kính sợ Thiên Chúa.

Thiên Chúa kêu gọi chúng ta trở nên một tạo vật mới. Ngài muốn tái tạo và ban ơn cứu độ cho chúng ta. Song Ngài chỉ có thể tái tạo và cứu độ chúng ta khi nào ta tự hạ để nhìn nhận thân phận cát bụi của mình. Chỉ lúc đó, như Thánh Vương Đavít nói, Thiên Chúa sẽ: “Cất nhắc tôi lên từ đống phân tro.”

Mùa Chay trao tặng cho chúng ta cơ hội để thay đổi và hoán cải cuộc đời. Tro là dấu chỉ nhắc nhở chúng ta thực tại Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa.

TÔI PHẢI LÀM GÌ ĐÂY?

Nếu quý anh chị em thật sự muốn thực hiện những điều sau đây, thì chúng ta cần phải xin ơn can đảm để nói thật và sống thật với bản thân và với Thiên Chúa. Điều kiện căn bản và tiên quyết là: Sống Thật.

 MỘT VÀI ĐỀ NGHỊ:

Gia đình tề tựu với nhau trong giờ cầu nguyện. Trong buổi cầu nguyện, ông bà, cha mẹ và mỗi một người con trong gia đình nêu lên một thái độ, cách ăn nết ở, hoặc một cách cư xử nào đó mà mình muốn thay đổi để làm cho mối tình gia đình chan hòa đầm thắm hơn.

Thí dụ về thái độ cần sửa đổi:

-      Bất cập: “Đâu phải việc của tôi đâu mà tôi phải “xía” vào. Đổi thành quan tâm và tích cực hơn: “Tôi có thể giúp được gì không?”

-      Ôm đồm: “Không có tôi thì chẳng có ai làm được gì cả.” Đổi thành chia sẻ, cộng tác và thoát ly – không dính bén: “Tôi cần sự giúp đỡ của bạn.”

-      Hấp tấp – Nhiều người tự bào chữa rằng làm nhanh làm lẹ tức là nhanh nhẹ, tháo vác, sáng trí. Nhiều công việc kéo dài trì trệ vì hấp tấp. Đổi lại thành điềm đạm, thận trọng và nhẫn nại hơn.

-      Lê thê – chậm chạp cà rề. Nói cách khác, lười. Đổi lại thành phấn khởi, tổ chức và chủ động hơn.

Thí dụ về cách ăn nết ở:

-      Dọn dẹp phòng ở hằng ngày.

-      Gìn giữ vệ sinh cá nhân thường xuyên: đầu tóc, quần áo, thân thể ...

-      Tập thể dục thường xuyên để gìn giữ sức khỏe

-      Bớt ăn bớt uống.

-      Bỏ bớt những đam mê về phim ảnh, rượu bia, thuốc lá.

-      Đọc kinh cầu nguyện thường xuyên hơn

-      Đọc một đoạn Thánh Kinh mỗi ngày và suy niệm

 Thí dụ về cách cư xử:

-      Thay vì âu sầu, đổi thành tươi vui với người.

-      Thay vì dửng dưng, đổi thanh niềm nở tiếp đón – chào hỏi người thân, khách lạ hoặc bạn đồng nghiệp.

-      Thay vì nói lại chuyện xấu của người khác – tức là phao đồn tin xấu, thì tìm những điều tốt để bản thảo và noi theo.

-      Thay vì chê trách nhau, khen ngợi và cảm ơn nhau nhiều hơn.

-      Thay vì nói một lời có nhiều ngụ ý ám chỉ, thì nói lời đơn thành yêu mến, khích lệ người nghe.

-      Thay vì nói lời làm buồn lòng hoặc gây hoang mang, nghi kỵ và phân bì cho người nghe, thì ta quyết tâm nói những điều có lợi, tức là tạo niềm vui, bình an và tin tưởng cho người nghe.

 Đặt ra kế hoạch giúp đỡ người nghèo.

Để dành tiền lẻ, đồ hộp, quần áo, thức ăn khô, rồi chọn một ngày trong tháng, đem đến Nhà Xứ hoặc một cơ quan từ thiện nào đó để để trao tặng.

Mj. Trương Luận, CSsR

 

Con số huyền nhiệm trong Thánh Kinh
Đinh văn Tiến Hùng 2/21/2012

Lễ Tro 22/2/12 khởi đầu Mùa Chay Thánh

Hãy ăn chay,khóc lóc và thống thiết than van- Hãy xé lòng chứ đừng xé áo”- (Ge.:12b-13a)

40 ngày Ăn chay Xám hối gột rửa Tâm Hồn
40 năm Cầu nguyện Mong chờ trở về Đất Hứa.

*Những Đoản khúc về Số 40

-Một.

Mỗi sáng thức đậy tôi ngồi trước quyển THÁNH KINH.
Bao nhiêu năm tháng, bao nhiêu lần tôi đọc đi đọc lại những điều ghi lại trong Cựu Ước & Tân Ước.
Quyển sách xếp hạng Best Seller suốt qua nhiều thế kỷ.
Sách được dịch ra hàng trăm ngôn ngữ trên địa cầu.
Nhưng tôi đọc thấy gì trong đó ?
Có phải tôi cố tâm tìm hiểu hay chỉ là môt thói quen thường ngày ?
Bao nhiêu thế hệ qua đi- Bao lời tiên tri cảnh báo- Bao lời Chúa truyền dạy trong công cuộc cứu độ loài người.

-Hai.

- Từ lũ lụt Đại Hồng Thủy thời Nô-e: mưa đổ xuống địa cầu 40 ngày đêm liên tục, nước dâng tràn mặt đất, diệt hết loài người cùng sinh vật cỏ cây- nhưng gia đình Nô-e cùng muông thú trên tàu được cứu thoát.
- Tổ phụ Moi-sen lập giao ước cùng Đức Gia-vê: 40 ngày chờ đợi trên núi Si-nai để Chúa ban 10 Giới răn cho nhân loại.
- Tiên tri Ê-li-a bị hoàng hậu Jezebel truy bắt, trốn nơi sa mạc hoang vu suốt 40 ngày mới thoát khi tới chân núi Horeb.
- Ngôn sứ Gio-na truyền báo dân thành Ni-ni-vê hãy ăn chay xám hối 40 ngày để tránh tai họa Chúa Trời trừng phạt.
- Thiên Chúa che chở nuôi dưỡng dân Ngài qua 40 năm lang thang trong hoang mạc trước khi vào Đất Hứa: ban ngày cho vầng mây che mát, đêm đến cột lửa soi đường, Man-na và chim cút sa xuống làm của ăn hàng ngày.
- Moi-sen sai người dò thám 40 ngày tìm miền đất màu mỡ, đầy sữa mật cho dân.
- Vua Thánh Đa-vít Chúa cho cai trị vương quốc 40 năm an bình thịnh vượng.
- Vua Salomon thông thái, khôn ngoan tuyệt vời, 40 năm trên ngai vàng, đưa đất nước It-ra-en trở nên giàu sang đầy quyền lực.

-Ba.

- Trước khi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, Chúa vào hoang địa ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày và đã chiến thắng Sa-tan cám dỗ.
- Chúa được an táng trong mồ và 40 giờ sau Sống lại khải hoàn.
- Sau Phục Sinh Chúa lưu lại thế trần 40 ngày an ủi các Tông Đồ. Khi về trời sai Chúa Thánh Thần xuống ban sức mạnh cho các Môn Đồ đi rao giảng khắp nơi.
- Theo luật Moi-sen truyền dạy dân Chúa: người nữ sau khi sinh con 40 ngày phải lên Đền Thờ dâng lễ vật để thanh tẩy.
- Đức Trinh Nữ Maria tuân giữ lề luật: sau khi sinh Chúa 40 ngày Mẹ dâng Chúa Hài Nhi trong Đền Thánh cùng đôi chim bồ câu làm lễ vật.
- Kể từ đó, sau Lễ Giáng Sinh 40 ngày Giáo Hội mừng Lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Trong Đền Thờ và cũng gọi là Lễ Nến.

-Bốn.

Nhưng sao lại là số 40 ?
Số 40 kết nối bởi số 4 và 10 đâu có gì lạ ?
Số 0 chỉ là trống rỗng hư vô.
Số 4 rất bình thường vì vẫn còn nối tiếp.
Số 10 vẹn toàn viên mãn như 10 Giới Luật Chúa truyền dậy.
40 ngày đủ dài cho một thời gian chuẩn bị.
40 năm lại quá mau cho nửa đời người tỉnh ngộ
4 yếu tố cho một kiếp nhân sinh: khí- đất- nước- lửa, tất cả sẽ biến thành tro bụi.
4 thời kỳ nối tiếp đời người: thơ ấu- thanh niên- trung niên- tuổi già, rồi trở về số 0.
4 phương dù có vẫy vùng khắp chốn: nam- bắc- đông- tây, lại quay về chốn cũ.
4 mùa vẫn chỉ là quẩn quanh thay đổi: xuân- hạ- thu- đông.
Nhưng vẫn không tìm ra lối thoát cho kiếp phù sinh!
Đây Thành Đô Thiên Chúa trên trời có hình vuông 4 cạnh: khôn ngoan- công bình- tiết độ- dũng cảm, hãy học lấy để tiến thẳng vào cửa Nước Trời.
Và đây 4 cánh cửa Phúc Âm luôn luôn mở sẵn hãy can đảm bước vào theo tiếng gọi:
4 Thánh Sử Phúc Âm: Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca và Gio-an.

-Năm.

Ta thấy điều gì nơi số 40 ?
Đó là thời gian: thử thách, phấn đấu, kiên nhẫn mong chờ .
Vì sau thời gian này sẽ có Tin Mừng đổi mới như:
- 40 ngày đêm nước dâng ngập lụt địa cầu, khi chim câu từ tàu No-e bay đi không trở về: tín hiệu nước rút, sau cơn mưa trời tỏa sáng.
- 40 ngày Moi-sen chờ trên núi Si-nai: Chúa ban Mười Giới Răn để nhân loại được diễm phúc hồi sinh.
- 40 ngày dân thành Ni-ni-vê thành tâm thống hối theo lời Ngôn sứ Gio-na: Chúa thứ tha không trừng phạt.
- 40 năm lang thang trên sa mạc: Chúa che chở dân Ngài trước khi vào Đất Hứa vinh quang.
- 40 ngày trong hoang địa, Chúa ăn chay cầu nguyện: chiến thắng Sa-tan cám dỗ trước khi bước vào 3 năm rao truyền Tin Mừng cứu chuộc loài người.
- 40 giờ trong hang mộ tử khí tối tăm: Chúa toàn thắng sự chết, Phục Sinh khải hoàn.
- 40 ngày sau khi Sống Lại: Chúa vinh hiển Về Trời.

-Sáu.

- 40 ngày Mùa Chay Xám Hối: chúng ta sẽ Ca khúc Vinh Thắng cùng Chúa Phục Sinh.
- 4 Thế Kỷ Giáo Hội Việt Nam không khuất phục bạo quyền dù máu chảy đầu rơi của hơn Một Trăm Ngàn Vị Anh Hùng Tử Đạo , để trổ hoa hơn 8 triệu Tín Đồ.
- Giáo Hội Việt Nam đang mong đợi Một Moi-sen Mới xuất hiện, sẽ dẫn dắt Dân Chúa trở về Đất Hứa, sau 40 năm lưu lạc 4 phương trời ( 1975- 2015 ).

Hãy vui lên Ngày Ấy đã gần kề !
“Ngàn năm vẫn một giấc mơ,
THÁNH KINH ấn tích bây giờ còn đây,
Niềm vui Đất Hứa dâng đầy,
Tháng năm khắc khoải từng ngày chờ mong".
Đinh văn Tiến Hùng

 

Ngày Thứ Tư Lễ Tro, chúng ta nghe văng vẳng lời thánh ca từ Sách Sáng thế: Hỡi người hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro.

Lời Kinh thánh này nhắc nhở chúng ta ý thức về thân phận con người qua biểu hiệu "bụi tro" được dùng trong Kinh thánh và trong nghi lễ ngày Thứ Tư đầu Mùa Chay. Trong bài viết này tôi sẽ nói qua về lịch sử và ý nghĩa thần học phụng vụ của Ngày Thứ Tư Lễ Tro.


1. Lịch sử Thứ Tư Lễ Tro


Những Quy luật tổng quát của Năm phụng vụ nói về ngày Thứ Tư Lễ Tro như sau: "Mùa Chay bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro và kết thúc ngay trước Thánh lễ Tiệc Ly. Ngày Thứ Tư đầu Mùa Chay có xức tro; ngày đó khắp nơi ăn chay" (số 28 và 29). Lời chỉ dẫn này cho chúng ta biết ý nghĩa của Ngày Thứ Tư Lễ Tro trong Năm phụng vụ, cũng như trong suốt Mùa Chay thánh. Với Thứ Tư Lễ Tro, Giáo hội bắt đầu Mùa Chay. Ngoài ra trong cơ cấu phụng vụ của ngày này, Giáo hội cử hành lễ nghi làm phép tro và xức tro.

Trong truyền thống phụng vụ từ thế kỷ thứ 7, ngày Thứ Tư Lễ Tro là một ngày quan trọng, và không một lễ nào có thể vượt lên trên. Người ta cũng gọi ngày này là "Ðầu Mùa Chay" (Caput ieiunii), hay "Ðầu Mùa ăn chay 40 ngày" (Caput Quadragesimalis). Việc ăn chay trong Mùa này đã có từ thời Ðức Giáo Hoàng Gregoriô Cả (590-604).

Về nghi thức làm phép tro và xức tro, qua thời gian lễ nghi này đã có sự biến đổi từ một nghi thức thống hối trong định chế về tập tục thống hối công cộng thời xưa. Lịch sử phụng vụ về việc thành hình Nghi thức cử hành bí tích thống hối và hòa giải, cũng như định chế Giáo hội về một số sinh hoạt đặc biệt, đã có tục lệ bỏ tro cho hối nhân công cộng đã phạm một số tội nặng cách công khai, mà mọi nguời đều biết, như chối bỏ đức tin, giết người, ngoại tình . . . Những người này bị loại ra khỏi cộng đoàn tín hữu. Ðể được nhận lại trong cộng đoàn, họ phải làm việc thống hối công cộng theo định chế Giáo hội đưa ra. Vào ngày thứ Tư trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay, những hối nhân công cộng này sẽ tụ tập lại tại nhà thờ chính tòa, và sau khi xưng thú tội của mình, họ sẽ được Ðức Giám mục trao cho chiếc áo nhậm mang trên mình, rồi lãnh nhận tro trên đầu và trên mình. Sau đó họ bị đuổi ra khỏi nhà thờ và được chỉ định đi tới một tu viện để ở đó và thi hành một số việc thống hối đã ra cho họ. Vào sáng thứ năm Tuần thánh, các hối nhân này tụ tập lại tại nhà thờ chính tòa, được Ðức Giám mục xem xét việc thực hành thống hối của họ trong Mùa Chay, sau đó ngài đọc lời xá giải tội lỗi của họ để giao hòa với cộng đoàn. Từ đây họ được quyền tham dự các buổi cử hành bí tích. Tại Rôma, vào thế kỷ thứ 7, các hối nhân công cộng tập họp tại một số nhà thờ tước hiệu (tituli) của thành phố, cũng như tại 4 Ðại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô, Thánh Phaolô ngoại thành, Thánh Gioan Lateranô và Ðức Bà Cả, để cử hành nghi lễ như vừa nói trên đây.

Về sau định chế thống hối công cộng không còn nữa, tuy nhiên lễ nghi bỏ tro vẫn còn giữ lại trong ngày Thứ Tư Lễ Tro. Ðầu tiên chỉ có các tín hữu lãnh nhận tro trên mình. Về sau các Ðức Giáo Hoàng và tín hữu đều lãnh tro, để tỏ lòng thống hối. Sang thế kỷ thứ 10, thì có việc làm phép tro và một lời nguyện kèm theo bắt chước cơ cấu thánh lễ, nghĩa là có lời nguyện giống như Kinh nguyện thánh thể, và việc lãnh nhận tro như khi cử hành việc rước lễ.

Vào thế kỷ thứ 11, cũng tại Rôma, Ðức Giáo Hoàng tập họp các giáo sỹ, giáo dân tại nhà thờ thánh Anastasia. Ngài làm phép tro, bỏ tro cho mọi người, sau đó tất cả đi kiệu về nhà thờ thánh nữ Sabina ở đồi Aventino. Trong khi đi kiệu, Ðức Giáo hoàng và cộng đoàn hát kinh cầu các thánh. Tất cả đều mặc áo nhậm, đi chân không, để tỏ lòng thống hối ăn năn. Khi đoàn kiệu đến nhà thờ thánh Sabina, Ðức Giáo hoàng đọc lời xá giải và cộng đoàn cùng hát bài "Chúng ta hãy thay đổi đời sống, xức tro và ăn chay hãm mình, khóc than vì lỗi lầm đã phạm. Hãy khẩn cầu Thiên Chúa chúng ta. Vì Người rất từ bi nhân hậu sẵn sàng tha thứ mọi tội khiên" (Immutemur, xc. Ge 2, 13). Sau đó ngài cử hành thánh lễ. Ðó là trạm đầu tiên (statio) của Mùa Chay. Ngày nay vào Thứ Tư Lễ Tro, Ðức Giáo hoàng cũng đến làm phép tro và bỏ tro tại nhà thờ Thánh nữ Sabina theo truyền thống xưa. Trước đó có cuộc rước kiệu từ nhà thờ thánh Anselmô cũng trên dồi Aventino. Tại nhà thờ thánh nữ Sabina, ngài công bố sứ điệp Mùa Chay cho toàn thể Giáo hội.

Vào năm 1091, Công đồng Benevento (Nam Italia) đã truyền cử hành nghi lễ bỏ tro cho tất cả các nơi trong Giáo hội. Trong khi bỏ tro, vị linh mục đọc lời: "Ta là thân cát bụi sẽ trở về cát bụi" (St 3, 19). Tro này lấy từ những cành lá đã được làm phép trong ngày Chúa nhật Lễ Lá năm trước để lại. Trước công cuộc canh tân phụng vụ của Công đồng chung Vaticanô II, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro được cử hành trước thánh lễ. Vào năm 1970, khi công bố Sách Lễ Rôma được tu chính, thì lễ nghi này được cử hành sau phần phụng vụ lời Chúa. Ngoài câu trích từ Sách Sáng thế, còn có thêm một công thức dùng khi bỏ tro, lấy từ Phúc Âm: "Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng" (Mc 1,15). Với công thức mới này được thêm vào, thì biểu hiệu "tro" đã mang thêm một ý nghĩa mới nữa đó là việc canh tân đời sống trong suốt Mùa Chay thánh. Sau đây là một trong hai lời nguyện làm phép tro: "Lạy Chúa, Chúa nhân từ đối với ai khiêm tốn, và tha thứ cho kẻ biết ăn năn. Xin nghe lời chúng con khẩn nguyện và rộng tay giáng phúc cho hết thảy chúng con sắp nhận lấy tro này, để chúng con kiên trì giữ bốn mươi ngày chay thánh, và nhờ đó được nên tinh tuyền, xứng đáng cử hành mầu nhiệm Vượt qua của Ðức Kitô, Con Một Chúa, Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời" (còn có một lời kinh khác trong Sách Lễ Rôma).

2. Ý nghĩa việc bỏ tro và ngày Thứ Tư Lễ Tro


Trong Cựu Ước, việc xức tro và mặc áo nhậm được dùng để thực hành và biểu lộ lòng thống hối cá nhân hay toàn thể cộng đoàn dân Israel. Tro chỉ thân xác chúng ta là bụi tro, sẽ phải chết (xc. St 3,18.27; Giob 34, 17; Gr 6, 26; 25, 34; Est 4,13; Is 58, 5; Dn 9,3; Giona 3,6; Giudith 4,16; 9,1).

Trong truyền thống các đan sĩ và tu viện, tro được dùng để nói lên mối liên hệ với sự chết và sự khiêm nhường thống hối trước mặt Chúa. Vì thế, các tu sĩ, các đan sĩ có tục lệ tại một số nơi, muốn nằm trên đống tro với chiếc áo nhậm để chết. Thánh Martino thành Tours bên Pháp đã nói: "Không gì xứng hợp hơn cho một tu sĩ là việc nằm chết trên đống tro bụi". Các vị này lấy tro đã được làm phép trong ngày Thứ Tư Lễ Tro, rồi vẽ hình thánh giá trên đất, trên đó còn trải thêm áo nhậm và rồi các vị nằm trên đó khi hấp hối và khi chết. Các tu sĩ cũng có thói quen trộn tro vào bánh như của ăn. Ðó là một hình thức hãm mình nhiệm nhặt mà các tu sĩ phải giữ.

Từ đây chúng ta nhận ra, trước tiên Giáo hội đã đặt nền tảng cho việc thống hối, đó là nhìn nhận lại tình trạng nguyên tuyền của ơn thánh đã bị mất do tội nguyên tổ, và hậu quả là con người xa Thiên Chúa, trốn tránh Thiên Chúa. Con người sẽ phải chết như là một hậu quả của tội lỗi. Vì thế cần phải "quay trở lại" một cách tận căn, như ý nghĩa diễn tả qua từ "canh tân" trong ngôn ngữ Do Thái, là quay ngược lại với 180 độ. Ðàng khác suy tư về bụi tro, để cho thấy sự yếu hèn của mình và tính cách tùy thuộc vào Thiên Chúa vì con người được Ngài tạo dựng, nhưng Thiên Chúa đoái thương và ban ơn cứu rỗi. Phụng vụ đã diễn tả nền tảng này qua các biểu hiệu và các lời kinh của ngày Thứ Tư Lễ Tro.

Cùng với một số biểu hiệu khác được Giáo hội dùng trong Mùa Chay, như màu áo lễ tím, không đọc Kinh Vinh Danh, không trưng bông hoa trên bàn thờ, không dùng đàn trong thánh lễ, bụi tro cũng được dùng để cho thấy tính cách thống hối của Mùa Chay và thân phận của con người hay chết.

Nói tóm lại, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro trong ngày Thứ Tư Lễ Tro gợi ra cho tín hữu về một thời điểm quan trọng đang bắt đầu liên hệ tới ơn cứu rỗi của họ, đó là Mùa Chay. Ðồng thời, lễ nghi khởi đầu này cũng đề ra cho tín hữu một hành trình phải đi theo trong thời gian suốt Mùa Chay.

Hành trình đó là thực hành các việc làm biểu lộ sự thống hối, sống bác ái; đàng khác, tín hữu cũng phải đi sâu vào tâm tình thống hối, khi suy tư về thân phận con người, về lỗi lầm của mình và nhu cầu khẩn thiết phải trở về, phải canh tân cuộc sống. Tuy nhiên, tín hữu không làm những việc này trong ý thức khổ hạnh cá nhân, nhưng là để hướng về ơn cứu rỗi Chúa Kitô đã thực hiện và Giáo hội đang chuẩn bị mừng trong đại lễ Phục sinh. Ngày nay các biểu hiệu bên ngoài, như thống hối công cộng, như mặc áo nhậm, như đi chân không trong cuộc hành hương, vv. không còn được thực hiện như xưa, vì hoàn cảnh xã hội đổi thay, nhưng thái độ và ý chí thống hối, canh tân trở về vẫn phải in khắc sâu đậm trong thâm tâm mỗi người. Mỗi người sẽ tự đưa ra cho mình một số những thực hành thống hối trong cuộc sống cụ thể để biểu lộ ý nghĩa và tinh thần của lễ nghi xức tro.

Le Trong Thien

HOÁN CẢI VÀ SINH NHIỀU HOA TRÁI
Gia Tuấn Anh

Hàng năm cứ vào dịp lễ Tro, tín hữu lại tham dự thánh lễ chật cứng tại các nhà thờ. Điều này cho thấy, ý thức hoán cải, quay về với Thiên Chúa vẫn hằng ở trong ý thức của các Kitô hữu.

Giữa ý thức trong lựa chọn: con đường thập giá và con đường thực tiễn của mỗi người đang đi là một cuộc chiến nội tâm luôn luôn diễn ra. Ở đó, con người cố gắng tìm cách thoát ra khỏi cuộc sống tội lội và nô lệ của sự dữ. Những ai đã có ít nhiều trải nghiệm về cuộc chiến này đều nhận thức rõ tính cam go, khốc liệt của nó do nhục thể là đặc tính vốn có của con người. Vì thế Chúa Giêsu truyền lại ý này trong kinh cầu Lạy Cha ở câu cuối “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ”. Chúng ta không thể là người chiến thắng nếu không liên lỉ cầu xin và nhận được ân sủng từ Trời cao.

Thánh Phaolo trong thư gởi Roma 7, 19 mô tả cuộc chiến nội tâm như sau “Sự lành tôi muốn, tôi không làm; còn sự dữ không muốn, tôi lại thi hành. Nhưng nếu tôi làm điều tôi không muốn, thì không còn phải chính tôi làm ra nó, song là sự tội lỗi cư ngụ trong tôi.”

Mùa chay là thời gian thích hợp mà giáo hội ân cần và tha thiết kêu gọi chúng ta tự kiểm duyệt lại bản thân để nghiêm túc suy tư lời khuyên chí tình của Chúa Giêsu: “Hãy vào cổng hẹp. Vì rộng rãi và thênh thang, là con đường dẫn đến hư vong, và lắm kẻ đi ngang qua đó. Còn cổng hẹp và đường chật, thì dẫn đến sự sống, và ít kẻ gặp được nó” (Mt 7, 13).

Việc quay về với Thiên Chúa, mặc dù phải bắt đầu từ tấm lòng của con người, nhưng với sự trợ giúp của ngoại cảnh, việc từ bỏ những đam mê trần tục trở nên thuận lợi hơn. Vì thế trong mùa chay, giáo hội đưa ra một số nghi thức mà ăn chay là môt trong các nghi thức giáo dân cần tuân thủ trong thời gian này. Trong Cựu Ước, trước khi cảm nghiệm lòng thương xót và tình yêu lớn lao của Thiên Chúa, dân Do Thái phải trải qua 40 năm cực khổ trong sa mạc. Thánh Gioan Tẩy giả đã rao giảng việc thống hối trong hoang địa. Chính Chúa Giêsu cũng trải qua kinh nghiệm 40 ngày trong sa mạc trước khi bắt đầu công cuộc rao giảng ba năm của Ngài.

Trong lúc ngồi trò chuyện, một người bạn bảo: “Khi gia đình còn nghèo khổ, ngày 13 hàng tháng mình đều đi lễ kỷ niệm ngày Mẹ Maria hiện ra ở Fatima. Bây giờ có nhà, có tiền thì hàng năm chỉ đi ngày 13 tháng 10”. Viện dẫn đến Thiên Chúa khi bản thân đang rơi vào điểm đáy của khủng hoảng, nhưng sau khi thoát hiểm lại bỏ rơi Ngài là thuộc tính xấu mà con người thường vấp phải. Thật ra, với cái nhìn của đức tin, chính Thiên Chúa đã dùng các thử thách lớn lao mà mỗi cá nhân phải đối diện trong vòng đời của mình để kêu gọi chúng ta hãy quay về cùng Ngài. Từ những cảm nghiệm của bản thân đúc kết trong những lúc tưởng chừng như tuyệt vọng, biết chạy đến bên Ngài- Đấng luôn nâng đở, ủi an cho những ai khó nhọc và gáng nặng- để từ đó chúng ta biết tri ân và ca tụng Ngài mãi mãi. Và đây cũng là con đường phổ biến để đức tin cá nhân được tăng trưởng theo thời gian.

Cụm từ mùa chay có thể chỉ là cách nói ngắn gọn của cụm từ mùa chay Thánh. Trong mùa này các Kitô hữu làm đồng thời ba việc để thể hiện sự hoán cải: cầu nguyện, ăn chay và làm các việc bác ái. Sự chuẩn bị này giúp mỗi chúng ta sốt sắng bước vào một tuần đặc biệt được gọi là tuần Thánh tại cuối mùa Phục Sinh. Thánh Phanxicô Assisi quan niệm chữ hoán cải ở một ý nghĩa sâu rộng hơn, nghĩa là: hoán cải và tin vào Tin Mừng. Sau hành vi hoán cải là hãy sinh những hoa trái xứng đáng với lòng sám hối (Lc 3, 8).

Suy niệm về mùa chay với việc nghiền ngẫm lại đoạn Tin Mừng nói về đứa con hoang đàng trong Luca 15, 11 sẽ khích lệ chúng ta mạnh dạn thực hiện một cuộc quay về với người Cha rất giàu lòng thương xót và luôn mở rộng vòng tay. Ngài sẽ vui mừng vì “thấy chúng ta đã chết mà lại sống, đã mất đi mà lại tìm thấy được".

Thực hiện sự quay về, chúng ta không chỉ được ban ơn hòa giải với Thiên Chúa, mà còn được Ngài chữa lành những bệnh tật, khiếm khuyết ở phần hồn. Đoạn Tin Mừng trong Mc 2, 1-12 kể Chúa Giêsu chữa lành cho một người bất toại được bốn người dỡ mái nhà, rồi thòng dây xuống hay đoạn Zakêu trèo lên cành cây để mong gặp Chúa là những gợi ý cho chúng ta, những ai muốn tìm gặp Ngài, cần hành động quyết liệt, năng động, thậm chí phải sáng tạo và liều lĩnh.

Lạy Chúa, chúng con luôn nhận thức sự yếu đuối và mỏng dòn của chính mình trong cuộc chiến nội tâm. Mặc dù quay về cùng Ngài luôn nằm trong sự mong muốn, nhưng để đạt được điều ấy trong từng giờ của mỗi ngày là vượt xa khả năng của chúng con. Xin ban ơn trợ lực để chúng con không tuột dốc, đuối sức khi trèo lên đồi Gôngotha với Ngài.


VHD sưu tầm 20-2-2012

- dongcong.net

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)