Suy niệm và cầu nguyện
Chúa Nhật 4 Thường Niên C
ĐÁNH MẤT HỒNG ÂN-2019
Dịp Tết hằng năm, có nhiều bà con Việt Kiều về thăm thân nhân và ăn Tết ở quê nhà.
Sau những tháng ngày rao giảng Tin Mừng đó đây, hôm nay Chúa Giêsu trở về thăm làng quê Nagiarét. Ngày Sabbat, Chúa vào Hội đường tham dự giờ cầu nguyện và nghe giảng giải Thánh Kinh. Hội đường Do thái không phải là nơi thờ phượng, nhưng là nơi người do thái tập hợp hàng tuần vào các ngày Sabat để nghe đọc Sách Thánh và diễn giải Lời Chúa. Người Do thái chỉ có một nơi duy nhất dành để thờ phượng Thiên Chúa, để dâng lên Người Lễ Toàn Thiêu và lễ Tạ Tội, đó là đền thờ Giêrusalem. Các Hội đường ở các thành phố và làng mạc trong cả nước còn được sử dụng để dạy và đào tạo tàng lớp thanh thiếu niên về Kinh thánh. Trong thời tuổi trẻ, Đức Giêsu từng là một trong các thanh thiếu niên có mặt thưởng xuyên trong các giờ giáo lý Kinh thánh, và còn hơn thế nữa, là một học trò ưu tú bậc nhất và quen thuộc của ông Trưởng Hội đường tại quê nhà Nadarét .
Vì thế, khi Đức Giêsu trở lại Nadarét và đi vào Hội đường vào Ngày Thứ Bảy, ông Trưởng Hội đường tất nhiên đã nhận ra ngay cậu học trò ưu tú năm xưa của mình và đã đưa Sách Thánh cho Ngài đọc. Đây là hành động đầy kính trọng mà các vị Trưởng Hội đường thường dành cho các vị khách quý đặc biệt của họ. Đức Giêsu đọc sách Ngôn sứ Isaia và bắt đầu giảng giải Kinh Thánh.
Vẻ uy nghi trang trọng của Ngài khác thường. Gương mặt Ngài luôn tỏa ra nét dịu hiền, mến yêu, đầy thiện cảm. Giọng nói tự nhiên của Ngài càng hấp dẫn dân chúng hơn. Ý tứ Ngài trình bày đơn sơ trong sáng hợp với tâm trí mọi người. Họ cảm thấy thấm thía sự kỳ diệu của nước Thiên Chúa. Họ cảm nhận lòng nhân ái Chúa Cha trên trời. Họ cảm phục về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Đức Giêsu đòi hỏi mọi người phải sống thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Họ ngạc nhiên thì thầm với nhau: “Bởi đâu ông ta được như thế ? Sao ông ta được khôn ngoan như vậy ? Ông ta làm được nhiều phép lạ, như thế nghĩa là gì ?”.
Những người đồng hương ngạc nhiên bởi sự khôn ngoan và những phép lạ Ngài làm ở những nơi khác. Nhưng khi nhớ đến nguồn gốc của Ngài, chỉ là một người thợ mộc, bà con với những dân làng bình thường, họ không tin. Dân làng Nadaret và cả họ hàng Chúa Giêsu không tin Chúa, đó là điều cả bốn sách Tin Mừng cho biết. Riêng Luca cho thấy họ đi tới chỗ muốn giết Chúa bằng cách xô xuống vực. Nhưng Chúa băng qua giữa họ mà đi, tiếp tục rao giảng cho những làng mạc khác.
Dân chúng xì xầm bàn tán chỉ vì ghen tương và đố kỵ nên họ muốn giết Đức Giêsu.
Họ chẳng biết sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Giêsu bởi đâu ? Họ xì xầm về nguồn gốc chỉ thấy: “Mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giosê, Giuđa và Simon”. Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở Nagiarét này, một thôn ấp nhỏ bé chỉ có độ 150 gia đình nghèo nàn, tối tăm, mấy ai quan tâm đâu. Ông ấy lại là bác thợ mộc, con nhà lao động, làm thuê làm mướn, lang thang từ nhà này sang nhà khác, đóng bàn sửa ghế, ráp giường ghép tủ, đục đẽo cày bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã hội. Có bao giờ thấy ông ấy nói năng, làm được gì hay lạ đâu ? Ông ta bỏ quê nhà đi lang thang mấy tháng, nay trở về, sao thay đổi nhanh như thế ! Một quá khứ và hiện tại như thế đã khiến họ vấp phạm. Họ không tin Ngài là một Ngôn Sứ, lại càng không thể tin Ngài là Mêsia, và chắc chắn họ chẳng bao giờ dám nghĩ rằng mình là người đồng hương với Ngôi Hai Con Thiên Chúa.
Để cảnh tỉnh họ, Đức Giêsu chỉ cho họ thấy chỉ vì tổ tiên họ ngày trước đã không đón nhận các ngôn sứ Thiên Chúa gửi đến nên đã đánh mất những ân huệ lớn lao. Cụ thể là vào thời ngôn sứ Êlia, khi trời hạn hạn suốt ba năm sáu tháng, dân Itraen phải lâm vào cơn đói khát trầm trọng, vậy mà ngôn sứ Êlia được sai đến, không phải để cứu giúp các bà goá trong dân Ítraen thời đó, mà là để cứu đói cho hai mẹ con bà goá ngoại giáo nghèo khổ thành Xarépta, miền Xiđôn. Một sự kiện khác tương tự là vào thời ngôn sứ Êlisa, đang khi có nhiều người phong cùi trong dân Itraen cần được cứu chữa, thế mà không ai trong bọn họ được vị ngôn sứ chữa lành, ngoại trừ tướng Naaman ngoại giáo, người nước Syri.Thế nhưng, những lời cảnh tỉnh của Đức Giêsu không làm cho họ tỉnh ngộ, trái lại càng khiến họ oán ghét Ngài. Họ nhất tề đứng dậy, xông vào túm lấy Ngài, lôi ra khỏi hội đường rồi kéo ra khỏi thành, kéo lên tận đỉnh núi, để xô xuống vực cho nát thịt tan xương.Lòng đố kỵ ganh ghét thật khủng khiếp! Đức Giêsu trở thành nạn nhân của “chủ nghĩa lý lịch”. Mc. Kenzie nói : Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người định kiến hẹp hòi nhìn bằng kính hiển vi. Sự kiện này là khởi điểm những thử thách gian nan và cái chết đang chờ đợi Đức Giêsu trong những tháng ngày sắp tới.
Còn Đức Giêsu thì luôn âm thầm, kiên nhẫn, nhỏ nhẹ nói với họ bằng câu ngạn ngữ: “Không ai là tiên tri cho xứ sở mình”. Một câu chuyện quen thuộc nhưng đáng buồn “Ngôn sứ không được quê hương mình chấp nhận”. Đức Giêsu thật ngạc nhiên vì thấy họ không tin. Ngài rất muốn giúp đỡ họ nhưng cũng đành phải bó tay. Họ chỉ biết nhìn Ngài theo lối nhìn bên ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong, những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật. Chính những điều sâu xa bí ẩn mới làm ích rất lớn cho con người. Chính những chất màu mỡ nằm ẩn trong đất mới làm cho cây trái, hoa mầu trổ sinh tươi tốt, đâm chồi nẩy lộc, nuôi sống muôn người, muôn vật. Chính những kho tàng nằm sâu trong lòng đất, như mỏ dầu, mỏ vàng, mỏ bạc, đồng, sắt, kim cương, đá quý mới là nguồn tài nguyên phong phú giúp phát triển nền văn minh nhân loại. Chính những tài năng thượng đẳng, thiêng liêng trong con người như: tinh thần tự do, trí khôn sáng suốt, ý chí mạnh mẽ, tình cảm nhân từ mới có sức thăng tiến con người hơn chân tay, mắt mũi. Thế nhưng loài người vẫn thích thờ bò vàng óng ánh hơn thờ Thiên Chúa siêu việt.
Chuyện ngày xưa cũng như chuyện ngày nay. Rất nhiều khi chúng ta phán đoán giá trị lời nói của một người dựa trên bằng cấp, sự giàu có, uy tín của họ nhiều hơn là dựa vào sự hợp lý, tính chính xác của câu nói ấy. Hễ ai có chức có quyền, có địa vị, có của cải, có học vấn mà nói thì ta cho rằng họ nói đúng. Còn ai nghèo nàn, rách rưới, thấp cổ bé miệng, ít học mà nói thì ta cho rằng họ nói sai hoặc chẳng có giá trị gì. Chính vì tâm lý sai lạc này mà các ngôn sứ giả thường được người đời ưu đãi, còn ngôn sứ thật thì thường bị bạc đãi (x. Lc 6,23.26). Lối hành xử như vậy là coi trọng của cải, tiền bạc, chức quyền, địa vị chứ không phải là người coi trọng chân lý, công lý và tình thương. Thực ra, một điều sai trái, dù kẻ nói ra có quyền thế, học vấn hay giàu sang tới đâu thì cũng vẫn là sai trái. Còn một điều đúng, thì dù người nói ra một đứa trẻ, một người nghèo thì cũng vẫn là đúng. Lời nói sai đâu thể biến thành đúng, hay lời nói đúng đâu thể biến thành sai vì thế giá hay trình độ học vấn của người nói ra câu nói đó.
Đức Giêsu buồn phiền nhưng không cay cú, thất vọng chứ không tức giận. Ngài quyết định đem ánh sáng và quà tặng thần linh đi đến nơi khác.Những người ở làng quê Nagiarét đã để lỡ cơ hội đón tiếp Đấng Cứu Thế. Con Thiên Chúa làm một thường dân đến sống giữa họ mà họ không biết. Họ chỉ biết đó là con ông thợ mộc Giuse. Họ chỉ biết gia đình Ngài rất nghèo, chẳng có danh giá gì trong làng. Họ coi thường Ngài. Họ không tin Ngài. Họ hất hủi Ngài. Họ đã để lỡ cơ hội nghìn năm một thuở. Đức Giêsu không làm một phép lạ nào ở đó. Ngài bỏ Nadarét đi đến các làng chung quanh. Và Ngài sẽ chẳng bao giờ trở lại Nadarét nữa. Một cơ hội vàng đã không được đón nhận nên dân làng Nagiarét đánh mất hồng ân vô giá.
Hằng ngày chúng ta cũng đã bỏ lỡ biết bao nhiêu cơ hội như thế. Ta đã bỏ lỡ không tiếp đón Chúa đến thăm khi ta bịt mắt không nhìn thấy những cảnh khổ chung quanh; khi ta bưng tai không nghe những tiếng kêu than khóc lóc; khi ta làm ngơ trước những cảnh ngộ nghiệt ngã, khi ta ngoảnh mặt quay lưng trước những nạn nhân của thiên tai hoạn nạn. Nhất là ta bỏ lỡ không nghe thấy tiếng Chúa cảnh báo để ăn năn sám hối. Chúa đã nhắc nhở ta nhiều lần nhiều cách: qua các vị bề trên; qua các tai nạn; qua lời khuyên của những người thân; qua lời phê phán của những người thù ghét ta… Hôm nay, Chúa còn tiếp tục nhắc nhở. Nếu ta không nghe, biết đâu hôm nay sẽ là lần cuối cùng. Chúa sẽ không bao giờ nhắc nhở nữa. Chúa sẽ bỏ ta mà đi như đã bỏ làng Nagiarét và không bao giờ trở lại. Như thế thì thật nguy hiểm cho linh hồn ta. Để nhận biết Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một đức tin mạnh mẽ. Ánh mắt đức tin giống như ngọn đèn soi chiếu vào đêm đen giúp ta nhận ra Chúa trong anh em, trong những biến cố Chúa gửi đến. (Đức TGM Ngô Quang Kiệt).
Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ: “Tôi đã suy nghĩ và tự phản tỉnh nhiều về những điều này khi cầu nguyện. Tôi nhận thấy mình được mời gọi và chắc chắn mọi người cũng được mời gọi phải nhận ra những gì là ghen ghét, đố kỵ trong tâm hồn hình, vì chúng luôn dẫn tới đau khổ và chết chóc, không làm cho người ta vui mừng, hạnh phúc được. Người có lòng ghen ghét, đố kỵ luôn nghĩ rằng những điều tốt lành mà người khác có chống lại họ. Và đó là khởi đầu của bao nhiêu tội lỗi, gian ác khác. Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa giúp chúng ta đừng bao giờ mở con tim mình ra cho những ghen ghét, đố kỵ đi vào, vì chúng chỉ dẫn tới đau khổ và chết chóc mà thôi”. (Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử hành thánh lễ tại nguyện đường thánh Marta, sáng thứ năm, ngày 21.01.2016, lễ kính thánh Anê, trinh nữ tử đạo. Trong bài giảng, Đức Thánh Cha đã giảng về sự ghen ghét và đố kỵ. Người ta có thể dùng lời nói mà giết hại lẫn nhau. Nhưng Thiên Chúa sẽ bảo vệ chúng ta khỏi những tội lỗi xấu xa này).
Cuộc sống sẽ hạnh phúc biết bao khi người ta biết tôn trọng, cảm thông, tha thứ và nâng đỡ nhau. Thay cho lời kết án, ghen tỵ là lời chúc mừng khuyến khích. Thay cho những cái nhìn thiển cẩn hẹp hòi là những cái nhìn nhân ái bao dung. Cuộc sống thật đẹp khi người ta biết nhìn cái tốt nơi nhau, để khen ngợi, để khuyến khích nhau, thay vì nhìn điểm yếu của nhau để kết án, xem thường nhau.
Xin Chúa cho chúng con có một trái tim luôn rộng mở để yêu thương mọi người. Amen.
Để đón tiếp Chúa
CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN C-2013
(Gr 1,4-5.17-19 ; 1 Cr 12,31-13,13 ; Lc 4,21-30)
Đức Giêsu trở về thăm quê nhà. Ngày Sabat, ngày lễ nghĩ hàng tuần, dân làng đến hội đường nghe đọc Sách Thánh và hát thánh ca từ 9 giờ đến 12 giờ trưa.
Đức Giêsu và các môn đệ cùng tiến vào hội đường cầu nguyện. Đọc sách luật và thánh vịnh xong, Đức Giêsu đăng đàn giảng thuyết như một giáo dân tham dự vào chức tư tế. Vẻ uy nghi trang trọng của Ngài khác thường. Gương mặt Ngài luôn tỏa ra nét dịu hiền, mến yêu, đầy thiện cảm. Giọng nói tự nhiên của Ngài càng hấp dẫn dân chúng hơn. Ý tứ Ngài trình bày đơn sơ trong sáng hợp với tâm trí mọi người. Họ cảm thấy thấm thía sự kỳ diệu của nước Thiên Chúa. Họ cảm nhận lòng nhân ái Chúa Cha trên trời. Họ cảm phục về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Đức Giêsu đòi hỏi mọi người phải sống thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Họ ngạc nhiên thì thầm với nhau: “Bởi đâu ông ta được như thế ? Sao ông ta được khôn ngoan như vậy ? Ông ta làm được nhiều phép lạ, như thế nghĩa là gì ?”.
Họ chẳng biết sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Giêsu bởi đâu ? Họ tìm về nguồn gốc chỉ thấy: “Mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giosê, Giuđa và Simon”. Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở Nagiarét này, một thôn ấp nhỏ bé chỉ có độ 150 gia đình nghèo nàn, tối tăm, mấy ai quan tâm đâu. Ông ấy lại là bác thợ mộc, con nhà lao động, làm thuê làm mướn, lang thang từ nhà này sang nhà khác, đóng bàn sửa ghế, ráp giường ghép tủ, đục đẽo cày bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã hội. Có bao giờ thấy ông ấy nói năng, làm được gì hay lạ đâu ? Ông ta bỏ quê nhà đi lang thang mấy tháng, nay trở về, sao thay đổi nhanh như thế ! Một quá khứ và hiện tại như thế đã khiến họ vấp phạm. Họ không tin Ngài là một Ngôn Sứ, lại càng không thể tin Ngài là Mêsia, và chắc chắn họ chẳng bao giờ dám nghĩ rằng mình là người đồng hương với Ngôi Hai Con Thiên Chúa.
Còn Đức Giêsu, ai đã huấn luyện Ngài ? Ai đã ban quyền phép làm những việc kỳ diệu như thế ? Thân nhân bảo Ngài “mất trí”. Kinh sư chụp mũ Ngài “nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ”. Dân chúng chỉ biết ngạc nhiên: chưa từng thấy ai ăn nói, hành động có uy quyền lạ lùng như vậy. Môn đệ đi theo sát Ngài cũng chỉ biết hỏi: “Ngài là ai mà bão biển phải tuân lệnh”. Chẳng thấy ai huấn luyện Ngài, chẳng thấy Ngài học tập kinh sư nào. Chỉ thấy Ngài vào nơi thanh vắng, ngước mắt lên trời cầu nguyện. Trong âm thầm Ngài cầu nguyện cùng Chúa Cha trên trời. Đó chính là bí quyết làm cho Ngài khôn ngoan và đầy quyền phép để trừ hàng ngàn quỷ dữ, chữa hàng trăm bệnh nhân mà loài người phải bó tay, cho kẻ chết sống lại, bắt cuồng phong lặng yên…
Dân làng biết Ngài khôn ngoan. Kinh sư thấy Ngài trừ quỷ. Môn đệ được Ngài cứu khỏi chết giữa biển cuồng phong. Nhưng họ chẳng biết Ngài là Con Một Thiên Chúa, chẳng biết Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa; vì thương yêu loài người, đã xuống thế làm người sống với họ như anh em, như bạn bè, để cứu họ khỏi chết đời đời.
Dân làng Nagiarét quá biết về gốc gác, gia cảnh, biết rõ ràng lý lịch của Đức Giêsu. Với đầu óc thủ cựu, lại nặng thành kiến nên họ không thể nhận ra thiên tính nơi con người của Ngài. Đức Giêsu trở thành nạn nhân của “chủ nghĩa lý lịch”. Mc. Kenzie nói : Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người định kiến hẹp hòi nhìn bằng kính hiển vi.
Còn Đức Giêsu thì luôn âm thầm, kiên nhẫn, nhỏ nhẹ nói với họ bằng câu ngạn ngữ: “Không ai là tiên tri cho xứ sở mình”. Một câu chuyện quen thuộc nhưng đáng buồn “Ngôn sứ không được quê hương mình chấp nhận”. Đức Giêsu thật ngạc nhiên vì thấy họ không tin. Ngài rất muốn giúp đỡ họ nhưng cũng đành phải bó tay. Họ chỉ biết nhìn Ngài theo lối nhìn bên ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong, những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật.
Chính những điều sâu xa bí ẩn mới làm ích rất lớn cho con người. Chính những chất màu mỡ nằm ẩn trong đất mới làm cho cây trái, hoa mầu trổ sinh tươi tốt, đâm chồi nẩy lộc, nuôi sống muôn người, muôn vật. Chính những kho tàng nằm sâu trong lòng đất, như mỏ dầu, mỏ vàng, mỏ bạc, đồng, sắt, kim cương, đá quý mới là nguồn tài nguyên phong phú giúp phát triển nền văn minh nhân loại. Chính những tài năng thượng đẳng, thiêng liêng trong con người như: tinh thần tự do, trí khôn sáng suốt, ý chí mạnh mẽ, tình cảm nhân từ mới có sức thăng tiến con người hơn chân tay, mắt mũi. Thế nhưng loài người vẫn thích thờ bò vàng óng ánh hơn thờ Thiên Chúa siêu việt.
Chuyện ngày xưa cũng như chuyện ngày nay. Rất nhiều khi chúng ta phán đoán giá trị lời nói của một người dựa trên bằng cấp, sự giàu có, uy tín của họ nhiều hơn là dựa vào sự hợp lý, tính chính xác của câu nói ấy. Hễ ai có chức có quyền, có địa vị, có của cải, có học vấn mà nói thì chúng ta tiên thiên cho rằng họ nói đúng. Còn ai nghèo nàn, rách rưới, thấp cổ bé miệng, ít học mà nói thì ta tiên thiên cho rằng họ nói sai hoặc chẳng có giá trị gì. Chính vì tâm lý sai lạc này mà các ngôn sứ giả thường được người đời ưu đãi, còn ngôn sứ thật thì thường bị bạc đãi (x. Lc 6,23.26). Lối hành xử như vậy là coi trọng của cải, tiền bạc, chức quyền, địa vị chứ không phải là người coi trọng chân lý, công lý và tình thương. Thực ra, một điều sai trái, dù kẻ nói ra có quyền thế, học vấn hay giàu sang tới đâu thì cũng vẫn là sai trái. Còn một điều đúng, thì dù người nói ra một đứa trẻ, một người nghèo thì cũng vẫn là đúng. Lời nói sai đâu thể biến thành đúng, hay lời nói đúng đâu thể biến thành sai vì thế giá hay trình độ học vấn của người nói ra câu nói đó.
Đức Giêsu buồn phiền nhưng không cay cú, thất vọng chứ không tức giận. Ngài quyết định đem ánh sáng và quà tặng thần linh đi đến nơi khác.Những người ở làng quê Nagiarét đã để lỡ cơ hội đón tiếp Đấng Cứu Thế. Con Thiên Chúa làm một thường dân đến sống giữa họ mà họ không biết. Họ chỉ biết đó là con ông thợ mộc Giuse. Họ chỉ biết gia đình Ngài rất nghèo, chẳng có danh giá gì trong làng. Họ coi thường Ngài. Họ không tin Ngài. Họ hất hủi Ngài. Họ đã để lỡ cơ hội nghìn năm một thuở. Đức Giêsu không làm một phép lạ nào ở đó. Ngài bỏ Nagiarét đi đến các làng chung quanh. Và Ngài sẽ chẳng bao giờ trở lại Nagiarét nữa. Một cơ hội vàng đã không được đón nhận nên dân làng Nagiarét đánh mất hồng ân vô giá.
Hằng ngày chúng ta cũng đã bỏ lỡ biết bao nhiêu cơ hội như thế. Ta đã bỏ lỡ không tiếp đón Chúa đến thăm khi ta bịt mắt không nhìn thấy những cảnh khổ chung quanh; khi ta bưng tai không nghe những tiếng kêu than khóc lóc; khi ta làm ngơ trước những cảnh ngộ nghiệt ngã, khi ta ngoảnh mặt quay lưng trước những nạn nhân của thiên tai hoạn nạn. Nhất là ta bỏ lỡ không nghe thấy tiếng Chúa cảnh báo để ăn năn sám hối. Chúa đã nhắc nhở ta nhiều lần nhiều cách: qua các vị bề trên; qua các tai nạn; qua lời khuyên của những người thân; qua lời phê phán của những người thù ghét ta… Hôm nay, Chúa còn tiếp tục nhắc nhở. Nếu ta không nghe, biết đâu hôm nay sẽ là lần cuối cùng. Chúa sẽ không bao giờ nhắc nhở nữa. Chúa sẽ bỏ ta mà đi như đã bỏ làng Nagiarét và không bao giờ trở lại. Như thế thì thật nguy hiểm cho linh hồn ta. Để nhận biết Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một đức tin mạnh mẽ. Ánh mắt đức tin giống như ngọn đèn soi chiếu vào đêm đen giúp ta nhận ra Chúa trong anh em, trong những biến cố Chúa gửi đến. (Đức TGM Ngô Quang Kiệt).
Để đón tiếp Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một trái tim luôn luôn rộng mở yêu thương. Một trái tim yêu thương sẽ rất bén nhạy để nghe được tiếng nói của Chúa, dù tiếng nói ấy chỉ thì thầm trong sâu thẳm lòng mình; hiểu được những dấu chỉ của Chúa, dù những dấu chỉ ấy chỉ mơ hồ thoáng qua; nhận được khuôn mặt của Chúa, dù khuôn mặt ấy đã bị biến dạng qua những đau thương của cuộc đời.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con tỉnh thức để nhận ra và đón nhận Chúa mỗi lần Chúa đến với con. Amen.
Nguyễn Hữu An
Yếu đuối và sức mạnh –
Chúa Nhật 4 Thường Niên, Năm C-2010
Đọc lại trình thuật ơn gọi các Ngôn sứ lớn trong Cựu ước, ta sẽ thấy các ngài luôn ý thức sự thấp hèn bất xứng của mình.
- Môisen: người chăn cừu cho nhạc phụ Yethrô. Có một lần ông lùa đàn cừu tận núi Khoreb, bỗng nhiên ông nhìn thấy một quang cảnh hùng vĩ: Bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi. Bị cuốn hút trong khung cảnh hùng vĩ ấy, ông chạy đến để nhìn xem. Khi ông tới gần, một tiếng nói uy nghiêm từ bụi gai tuyên phán: Chớ lại gần, cởi dép ra vì đất ngươi đang đứng là Đất Thánh. Rồi Chúa gọi Môisen nhưng ông ngại ngùng thoái thác: “Lạy Chúa, tôi là ai mà dám đối đầu với Pharaon …Từ xưa tới giờ, tôi đâu có lợi khẩu, tôi chỉ là một đứa nói cà lăm…vì thế, lạy Chúa, Chúa muốn chọn ai thì chọn, sai ai thì sai, nhưng xin tha cho tôi” ( Xh 3,11;4,13). Chúa thuyết phục Môisen “ cứ yên tâm! Ta sẽ ở với ngươi, cho ngươi làm phép lạ, tài ăn nói và cho cả Aaron nói thay ngươi”. Môisen đã nhận lời nhưng vẫn run sợ sứ vụ cao cả Chúa trao.
- Isaia đã kể lại ơn gọi của mình: Trong một thị kiến đã nhìn thấy Đức Chúa trong một khung cảnh huy hoàng của Đền thờ. Các Thiên Thần tung hô “ Thánh ! Thánh ! Thánh ! ĐỨC CHÚA đạo binh là Đấng Thánh ! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa ! ”.Tôi thốt lên với tất cả nổi kinh sợ: “ Khốn cho tôi, tôi chết mất ! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là ĐỨC CHÚA các đạo binh !”. Một trong các thần Xê-ra-phim bay về phía tôi, tay cầm một hòn than hồng người đã dùng cặp mà gắp từ trên bàn thờ. Người đưa hòn than vào ấy chạm vào miệng tôi và nói: “Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, ngươi đã được tha lỗi và xá tội”. Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán; “Ta sẽ sai ai đây ? Ai sẽ đi cho chúng ta ?” Tôi thưa: “dạ con đây, xin sai con đi” ( Is 6,1-8).
- Giêrêmia cũng kể về việc Chúa gọi ông: Có lời ĐỨC CHÚA phán với tôi rằng: “ Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho dân”. Nhưng tôi thưa: “Ôi ! Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói !”. ĐỨC CHÚA phán với tôi: “Đừng nói ngươi còn trẻ ! Ta sai ngươi đi đâu ngươi cứ đi; Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói. Đừng sợ chúng, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi”. Rồi ĐỨC CHÚA giơ tay chạm vào miệng tôi và phán: “Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi. Coi, hôm nay Ta đặt ngươi đứng đầu các dân các nước, để nhổ, để lật, để huỷ, để phá, để xây, để trồng.” ( Gr 1,4-10).
Các Ngôn sứ luôn có tâm trạng kinh hãi đến run sợ trước sứ vụ Thiên Chúa trao. Tại sao phải kinh khiếp và run sợ như vậy? Nổi run sợ phát xuất từ cảm nhận cùng một lúc sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa và thân phận tội lỗi của mình. Cảm nhận khoảng cách tuyệt đối giữa Thiên Chúa Chí Thánh và con người yếu đuối; giữa sứ vụ trọng đại và thân phận hèn mọn bé bỏng của mình.Ý thức khoảng cách ấy làm cho con người ta run sợ.
Và trang Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng thuật lại, ngư phủ Simon run sợ, cảm nhận sự thấp hèn trước Thiên Chúa chí thánh. Thấy mẻ cá lạ lùng, Simon Phêrô đã sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi ! ” ( Lc 5,8). Chúa đã chọn Phêrô: Đừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá. Thế rồi: Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.
Từ ngày theo Chúa, cuộc đời của Phêrô có nhiều sôi nổi, có nhiều lỗi lầm, nhiều va vấp và nhiều yếu đuối. Cho đến khi xác tín ba lần: “Thưa Thầy, thầy biết là con yêu mến Thầy” thì bình minh đã rửa tội quá khứ để rồi Phêrô viết nên một thiên anh hùng ca cho Giáo hội sơ khai, rao giảng, làm chứng và chết cho Chúa Giêsu.
Thánh Phêrô làm nghề chài lưới (x. Mt 4,18), tên là Simon, con ông Gioan và là anh em với Anrê (x. Ga 1,40.42). Sinh tại Bétxaiđa (x. Ga 1,44), nhưng thường trú tại Caphácnaum (x. Mc 1,29). Ong đã có gia đình riêng và Tin Mừng nói đến mẹ vợ của ông (x. Lc 4,38). Simon được Đức Giêsu đổi tên thành Phêrô (x. Mt 16,18), và được đặt làm đầu của Nhóm 12 Tông Đồ (x. Mt 10,2). Ong thường đại diện các tông đồ lên tiếng trả lời các câu hỏi của Đức Giêsu (x. Lc 5,3-10; Ga 6,68). Phêrô đã sai lỗi chối Thầy ba lần (x. Mc 14,30) và nhiều lần khác bị Đức Giêsu quở trách vì đã có quan điểm lệch lạc về chương trình cứu thế của Đức Giêsu (x. Mt 16,23; Ga 13,8-10). Nhưng ông đã khiêm tốn hồi tâm sám hối (x. Mt 26,69-75), và đã tuyên xưng lòng yêu mến Thầy, nên đã được tha tội và còn được trao nhiệm vụ lãnh đạo đoàn chiên (x. Ga 21,15-17). Tại thành Xêdarê Philipphê, Simon đã tuyên xưng đức tin và đã được Đức Giêsu đổi tên thành Phêrô và còn được trao tối thượng quyền (x. Mt 16,18-19). Ong cũng được Đức Giêsu hứa sẽ cầu nguyện để ông luôn kiên vững đức tin để chu toàn nhiệm vụ củng cố đức tin cho các anh em (x. Lc 22,32). Ong là một trong ba môn đệ thân tín được xem Người biến hình (x. Mt 17,1), chứng kiến phép lạ một bé gái mới chết được sống lại (x. Mc 5,37) và có mặt khi Đức Giêsu hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-ni (x. Mt 26,37). Trong ngày Chúa Phục Sinh, Phêrô và Gioan đã cùng nhau chạy ra mồ khi nghe Maria Mácđala báo tin xác Thầy bị đánh cắp (x. Ga 20,1-9). Phêrô cũng được Chúa Phục Sinh hiện ra cách riêng (x. Lc 24,34). Sau khi Chúa về trời, Phêrô có mặt trong nhà tiệc ly để xin Chúa Thánh Thần hiện xuống (x. Cv 1,14). Trong những ngày ấy, Phêrô tổ chức cuộc tuyển chọn Mátthia bổ xung vào Nhóm Mười Hai thay chỗ của Giuđa phản bội (x. Cv 1,26).Vào lễ Ngũ Tuần, sau khi được ơn Thánh Thần, Phêrô đã bắt đầu rao giảng Tin Mừng (x. Cv 2,14-36). Nhờ Thánh Thần tác động mà người nghe dù thuộc nhiều dân tộc và ngôn ngữ khác nhau, vẫn hiểu được bài giảng của Phêrô giống như được nghe bằng tiếng mẹ đẻ của mình (Cv 2,5-8). Ngày hôm ấy đã có tới 3.000 người xin theo đạo. Họ được chịu phép Rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để được ơn tha tội và nhận ân huệ là Thánh Thần (x. Cv 2,37-38.41). từ đây, Phêrô lãnh đạo cộng đoàn Giêrusalem mới thành hình. Ong rảo khắp nơi để đi thăm các giáo đoàn như tại Lốt (x. Cv 9,32), làm nhiều phép lạ (x. Cv 9,33-35.40-41). Ong là người đầu tiên đã làm phép Rửa cho gia đình Conêliô ngoại giáo mà không bắt họ phải chịu phép Cắt Bì trước (x. Cv 10,47-48). Trong Công Đồng Giêrusalem vào năm 49, Phêrô ủng hộ Phaolô và Banaba và cùng quyết định chung là: Không buộc dân ngoại phải chịu phép Cắt Bì trước khi chịu phép Rửa để gia nhập đạo Công Giáo, mà chỉ cần họ kiêng ăn đồ cúng thần, kiêng ăn tiết, kiêng thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian dâm (x. Cv 15,28-28). Sau đó Phêrô đến Rôma và đã bị án tử hình thập giá vào năm 64 trong cuộc bắt đạo dưới thời hoàng đế Nêrông.
Ân sủng của Chúa thật kỳ diệu trong cuộc đời Thánh Phêrô và cả chúng ta nữa. Chiêm ngắm cuộc đời thánh nhân qua các đặc điểm.
1. Người môn đệ đi theo Chúa.
Yếu tố đầu tiên mà thánh Phêrô có thể nói với chúng ta đó là sự từ bỏ. Không thể đi theo Chúa nếu không có sự từ bỏ. Luôn có cái gì đó để từ bỏ với mỗi thời gian với mỗi tuổi đời.
Vậy thánh Phêrô đã có cái gì để từ bỏ? Điều lạ lùng hết sức mà sau này khoa khảo cổ bên thánh địa đã khai quật lên cơ ngơi của thánh Phêrô. Ngôi nhà của thánh Phêrô kế bên hồ Tiberia, một cơ ngơi rất lớn đến nỗi nhìn vào chúng ta phải giật mình. Theo những chuyên viên về khảo cổ thì thánh Phêrô là người rất giàu có, có những đội thuyền, có gia sản, sự nghiệp và ngay cả có người để yêu, đó là người vợ của ngài. Theo Chúa là từ bỏ. Từ bỏ những gì mà đối với thế gian là gắn bó hết sức. Từ bỏ gia sản, của cải, danh vọng, từ bỏ ngay cả tình yêu chính đáng của mình để đi theo Chúa Giêsu. Sự từ bỏ này đưa Phêrô tới một hồng phúc rất lớn lao đó là yêu mến Chúa Giêsu. Từ bỏ để yêu mến. Nếu chúng ta nhìn lại tư cách môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta có thể nói hai đặc điểm nổi bật đó. Phêrô luôn luôn phải từ bỏ. Nếu được phép nhìn lại môi trường hoạt động của Chúa Giêsu ở vùng Galilê, loanh quanh ở vùng Caphanaum, vậy Chúa ăn ở chỗ nào? Rất có thể là Chúa ở nhà Phêrô, nơi tiếp đón Chúa Giêsu và các môn đệ thời bấy giờ. Rồi giả như Phêrô chỉ một lần rời bỏ cơ ngơi của mình để theo Chúa thì lúc đầu chắc cũng xao xuyến, đau đớn nhưng sau đó thì yên thân. Còn đàng này đi xong lại trở về lại nhà của mình. Có thêm sự nghiệp rồi Chúa lại ra đi và Phêrô lại theo Chúa ra đi. Cho nên nhìn vào cuộc đời của Phêrô, tôi nghĩ rằng, cái sâu xa nhất của Phêrô trong tư cách là môn đệ là liên lỉ từ bỏ nếu không dám nói là từng ngày. Phêrô có rất nhiều điều để từ bỏ hầu có thể theo Chúa Giêsu và khi đã yêu mến Chúa Giêsu Phêrô bộc lộ sự gắn bó của mình lạ lùng hết sức. Có khi chúng ta có cảm tưởng Phêrô giống như một em bé bên cạnh bà mẹ yêu dấu của mình, bất cứ phản ứng gì Phêrô cũng bộc lộ và nói chuyện với Chúa, tâm sự với Chúa và ngay cả những điều thô thiển Phêrô không ngần ngại nói ra với Chúa ở giữa đám đông.
Nếu không vì lòng yêu mến, nếu không có một tâm hồn trẻ thơ mà còn giữ kẽ với Thầy của mình thì không bao giờ dám nói. Ngay cả câu chuyện này tôi thấy thương Phêrô hết sức. Tại Xêdarê Philipphê, Chúa Giêsu hỏi: Người ta bảo Con Người là ai? Người thì nói Thầy là Êlia, người thì nói là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó. Còn chúng con, chúng con nói Thầy là ai? Phêrô thay mặt anh em mình: "Thưa Thầy, Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống". Và Chúa Giêsu nói ngay: Này Phêrô không phải tự sức con có thể nói được điều đó, bởi nếu tự sức con, con chỉ có thể nói như tất cả những người bình thường khác. Nhưng nếu con có thể nói Thầy là Đấng Kitô, con hãy nhớ rằng Cha trên trời đã ban cho con ơn đó. Cha trên trời đã đổ đầy Thánh Thần cho con, vì không ai có thể gọi Thầy là Kitô nếu không có ơn của Chúa Thánh Thần. Con hãy nhớ điều đó.
Tất cả những ai tin Đức Giêsu là Đấng Kitô thì mới có thể trung thành đi theo Đức Kitô, còn ai chỉ nghĩ Ngài là một tiên tri, nghĩ Ngài là một vị anh hùng thì chỉ theo Ngài được một thời gian thôi. Hai môn đệ Emmau cũng như thế. Khi buồn bã rời Giêrusalem về Emmau. Người lữ khách hỏi họ: “Tại sao buồn vậy?” Tại ông Giêsu Nazaret mà chúng tôi tin là Đấng tiên tri, nhưng đã bị người ta giết chết. Đức Giêsu mới nói “Sao lại chậm tin?”. Rồi Ngài dùng Thánh kinh để giải thích cho họ biết Đức Giêsu Nazaret là Đấng Kitô, Đấng Thiên Chúa xức dầu, đã đến thế gian để thi hành sứ mạng. Nếu không tin Đức Giêsu là Đấng Kitô thì rõ ràng không thể trung thành đi theo Chúa. Phêrô đã tuyên xưng điều đó. Rồi Chúa Giêsu đã bộc lộ sứ mạng của Đấng Kitô là phải lên Giêrusalem, chịu nạn, chịu chết, ngày thứ ba sống lại. Phêrô yêu mến Chúa, gắn bó với Chúa, thủ thỉ với Chúa và can ngăn Người, bởi nếu Chúa chết là hết. Vậy mà Chúa Giêsu quay lại trước mặt anh em và mắng Phêrô: Xéo đi Satan! Chúa nói công khai. Trong đời có vị tông đồ nào bị mắng như thế, kể cả Giuđa bị mang tiếng là Satan. Phêrô hiểu được rằng đã là môn đệ đi theo Chúa thì không được đi trước mặt Chúa. Đây là cốt lõi của vấn đề cuộc hành trình người môn đệ. Phêrô cản Chúa nghĩa là muốn đi trước Chúa. Phêrô không thể mở đường vào ơn cứu độ. Phêrô phải đi sau lưng để Chúa đi trước. Người môn đệ đi sau Thầy của mình, người môn đệ đặt vết chân của mình vào dấu chân của Thầy, người môn đệ không lớn hơn Thầy của mình. Bài học này Phêrô hiểu hết sức là thấm thía. Từ bỏ để yêu mến, yêu mến để đi theo. Và chính vì thế những gì Chúa Giêsu làm Phêrô học lấy và rao truyền lại cho mọi người. Phêrô trong tư cách là môn đệ cho chúng ta thấy rằng đi vào trường phái của Chúa Giêsu sẽ mãi mãi là người môn đệ chứ không bao giờ ra trường đâu. Ở học viện này học viện kia khi ra trường có khi người học trò còn hơn Thầy của mình. Còn trong mái trường của Chúa Giêsu người môn đệ sẽ mãi là người môn đệ. Kinh nghiệm của Phêrô soi sáng cho chúng ta để rồi trong cuộc sống của chính mình, dù có thành đạt đến mức nào đi nữa, dù có nổi tiếng đến mức nào đi nữa, thì mình vẫn đi sau lưng Chúa Giêsu. Chúa đi trước mình theo sau.
2. Người môn đệ yếu đuối và vấp ngã.
Kinh nghiệm của Phêrô soi sáng cho chúng ta hình ảnh người môn đệ yếu đuối và vấp ngã. Thường tình khi nói về một vị thánh, người ta thường nói những điểm tốt nhất, tích cực nhất, anh hùng nhất để ca ngợi. Còn về Phêrô, nếu đọc kỹ Thánh kinh sẽ thấy lạ lùng. Phêrô có nhiều giới hạn, nhiều khuyết điểm và thậm chí rất nhiều vấp ngã.
Suy nghĩ về điều này, nếu chúng ta hỏi thánh Phêrô: Thầy là Đấng điều khiển Hội Thánh sơ khai, biết bao nhiêu áng văn chương Tân ước hình thành, thể hiện lòng kính trọng của các tông đồ trong Hội Thánh sơ khai đối với Thầy, sao lại ghi chép những chi tiết cho đời sau có thể hiểu những yếu đuối những vấp ngã như vậy? Chắc chắn thánh Phêrô sẽ nói rằng: điều đó để cho Chúa được lớn lên. Nếu Thầy có công trạng gì thì người ta sẽ khen Thầy, còn đàng này Thầy không là gì, con người của Thầy là như thế. Chúa đã chọn Thầy ở giữa những con người tầm thường hết sức. Chúa không thay đổi sự tầm thường của Thầy, nhưng xuyên qua sự tầm thường của Thầy Chúa trao ban kho tàng vô giá. Thấm thía điều đó nên sau này một người bạn của Thầy là Phaolô đã nói: “Tôi chỉ là chiếc bình sành dễ vỡ trong khi tôi được chứa đựng kho tàng vô giá là Đức Giêsu Kitô”.
Vậy những yếu đuối và vấp ngã của thánh Phêrô cho chúng ta thấy nền tảng, một nền tảng bị vấp váp rất nhiều vì Phêrô không vựơt qua lập tức được con người tự nhiên của mình là háo danh và tự phụ. Vì Phêrô là con người thành đạt, là con người nổi tiếng nên Chúa đã uốn nắn con người của Phêrô. Nếu như dựa trên sức lực, tiền bạc, uy tín thì Phêrô có thể thành đạt trong một thời gian nhất định, với những con người nhất định mà thôi. Nhưng nếu qua thời gian, vượt không gian mà danh tiếng của Phêrô vẫn trường tồn mãi mãi như chúng ta thấy ngày hôm nay. Điều này để thấy rằng, xuyên qua yếu đuối và vấp ngã, Chúa nâng đỡ Phêrô, tha thứ cho Phêrô. Một con người cần người khác nâng đỡ thì họ không bao giờ quá tự tin. Một con người cần lãnh nhận ơn tha thứ thì sẽ dễ dàng nói lời tha thứ với những người xung quanh, dễ cảm thông với người thất bại.
Cùng học nơi thánh Phêrô để chúng ta trở nên sứ giả đem lại ơn giao hòa, lòng thương xót, ơn tha thứ, sự cảm thông với biết bao nhiêu người quanh mình. Không yếu đuối không cảm thông. Không phạm tội thì không thể nào hiểu được niềm hạnh phúc của con người được tha thứ. Nói như thế không có nghĩa là nên phạm tội. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm đó. Thánh Phaolô nói rằng: “Điều phải làm tôi lại không làm, điều phải tránh tôi lại làm”. Nếu không suy niệm kinh nghiệm yếu đuối và vấp ngã của Phêrô có lẽ chúng ta đều trở nên những quan tòa.
Khi tin rằng mình vững vàng mà quên ơn Chúa thì có thể vấp ngã. Đêm tiệc ly, Chúa Giêsu nói “Đêm nay chúng con sẽ bỏ Thầy mà đi hết”. Mọi môn đệ khác im lặng lắng nghe run sợ, còn Phêrô gần như vỗ ngực để thưa với Chúa rằng: “Thà chết không bỏ Thầy, con sẵn sàng liều chết với Thầy”. Chúa nói: “Đêm nay trước khi gà gáy, con sẽ chối Thầy ba lần”. Phêrô tự phụ: “Người khác chối chứ làm sao con chối Thầy được”. Câu nói của Chúa lạ lùng lắm, đêm nay gà phải gáy và nó sẽ câm đi nếu con không chối, chối rồi nó mới gáy, nếu con không chối thì nó phải câm. Cho nên đứng về khía cạnh đó của Phêrô, nếu tự phụ thì bảo đảm sẽ phải chối giống như con gà phải gáy. Nếu không tựa vào ơn của Chúa, chúng ta sẽ vấp ngã. Lúc còn nhỏ chúng ta thấy ơn Chúa vừa vừa, càng lớn chúng ta thấy tất cả là hồng ân. Càng có những chức vụ, những gánh nặng chúng ta sẽ thấy rằng nếu không có ơn Chúa, sức mình không thể nào làm được. Từ đó Phêrô để lại cho chúng ta bài học rất quý giá mà ngay từ đầu Chúa Giêsu đã nói với ông mà ông không chú ý. Khi ông tuyên xưng Thầy là Đấng Kitô thì Chúa Giêsu nói tự sức con không thể làm được điều đó, Cha trên trời soi sáng cho con. Nếu con là nền của Hội Thánh thì con hãy nhớ rằng mọi việc hướng về Cha, hãy có hiếu với Cha. Cha trên trời đã chọn con, đã thương ban hồng ân cho con, đã luôn giữ gìn con, ngày nào con lơi đi mối tương quan với Cha trên trời bấy giờ con sẽ vấp ngã. Nhưng Thầy bảo đảm cho con, vấp ngã Thầy cũng kéo con trỗi dậy dù khi đó con sẽ ê chề.
Kinh nghiệm vấp ngã của Phêrô còn là, coi thường anh em mình. Mấy người kia có chối thì chối còn Phêrô thì sao chối Thầy được. Lời nói có vẻ tự phụ, xúc phạm tới anh em. Mỗi người đều là bình sành dễ vỡ. Làm sao để bảo tồn được cái bình sành trở thành của quý. Khi các bình sành để gần nhau, gió có lùa vào cũng không làm đổ. Để gần nhau là chia sẻ nâng đỡ nhau.
3. Người môn đệ yêu mến Chúa.
“Tôi đi đánh cá đây, anh em hãy đi với tôi” (Ga 21,. Lao nhọc vất vả suốt đêm mà không được gì cả. Đang lúc chán nản thì có tiếng bảo: Hãy thả lưới bên hữu thuyền. Phêrô buông lưới và cá quá nhiều, họ kéo cá lên, thuyền gần như chìm. Khi đó, có tiếng nói của Gioan: Chúa đó. Lời ấy như nhắc bảo Phêrô, tự sức mình không đưa tới kết quả đâu. Phải có Chúa, bao lâu hình ảnh của Chúa rọi soi nơi lời nói, việc làm, đời sống của Phêrô thì bấy giờ mới có thành quả. Còn nếu Phêrô chỉ dựa trên tài sức của mình, dù lao nhọc suốt đêm không bắt được một con cá nào.
Đâu phải dễ để đưa một người đến với đạo thánh Chúa. Dễ gì làm cho một người tin theo Chúa là tình yêu. Hãy có Chúa trong đời sống. Chúa đã thu phục nhân tâm bằng yêu thương. Chúa gọi Phêrô ra một bên và hỏi: Con có mến Thầy không? Lần thứ nhất Phêrô trả lời: Lạy Chúa, có. Lần thứ hai ông nói: Lạy Chúa, có. Lần thứ ba Chúa hỏi thì Phêrô buồn vì Chúa hỏi cùng một câu hỏi đến ba lần.
Trong tiếng Hy Lạp có bốn từ ngữ nói về tình yêu.
-Eros: yêu thương là chiếm đoạt, đưa tới nhục dục.
-Storghê: là tình âu yếm chỉ dành cho những người cùng một tương quan huyết thống với nhau, ai không có tương quan huyết thống, không có được tình âu yếm đó.
-Philia: tình bằng hữu, tình đồng nghiệp, tình cùng sở thích và đặc điểm là sự trung thành; yêu thương là đồng cảm với nhau, trung thành với nhau, chia vui sẻ buồn với nhau.
-Agapê: yêu thương là từ bỏ cho người mình yêu thương. Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người trao ban, từ bỏ mạng sống mình vì người mình yêu thương, Agapê.
Vậy khi Chúa Giêsu hỏi thánh Phêrô (trong bản văn tiếng Hy Lạp): Phêrô, con có Agapê đối với Thầy không? Phêrô đáp: Con có Philia đối với Thầy. Và Chúa nói: Hãy chăm sóc đoàn chiên. Lần thứ hai Chúa nói: Con có Agapê đối với Thầy không? Phêrô đáp: Con có Philia đối với Thầy. Lần thứ ba Chúa hỏi: Con có Philia đối với Thầy không? Phêrô buồn vì Chúa hỏi ông có Philia đối với Thầy không. Bấy giờ Phêrô nói: Lạy Thầy, Thầy thông hay mọi sự, Thầy biết con chỉ có thể có Philia đối với Thầy mà thôi. Con quá tự phụ, không đủ sức để trao ban sự sống của con cho Thầy, không có ơn của Thầy, con chỉ có thể đối xử với Thầy như người môn đệ, như người bạn, như người ngưỡng mộ trong trường phái nhưng mà trao ban sự sống như Thầy trao ban sự sống của Thầy cho con, tự sức con con chỉ có Philia thôi. Philia và Agapê: hai điều đó rất khác nhau. Phêrô lúc bấy giờ nói lên con người của mình để cho Chúa biết: Lạy Chúa, con chỉ là con người tầm thường. Đó là lần thứ nhất trong đời Phêrô bộc lộ chân tướng của mình; khác nào như Đức Maria: Này tôi là tôi tớ Chúa. Phêrô nói: Con chỉ là vật mọn phàm hèn trước mặt Chúa. Chính khi đó, Chúa Giêsu mới trao cả Hội Thánh cho Phêrô. Con biết con là ai thì con có thể chăm sóc Hội Thánh; bởi vì con đang làm công việc Thiên Chúa ủy thác và tin tưởng con. Con đang làm việc của Chúa !
Nhìn cuộc đời Thánh Phêrô ta thấy một điều rất rõ là trong trái tim ông lúc nào cũng yêu Chúa. Ngay cả khi Chúa bảo ông là Satan, ông cũng không giận Chúa. Ngay khi vì sợ hãi mà chối Chúa thì ông vẫn yêu mến Chúa. Không phải vì Phêrô yếu đuối hay tội lỗi mà Chúa bỏ ông. Tình yêu chân thành trong tâm hồn ông làm Chúa giữ ông lại và đặt làm lãnh đạo đoàn chiên của Chúa.
Vị Giáo Hoàng đầu tiên của Hội Thánh có một dung mạo là người môn đệ đi theo Chúa, người môn đệ yếu đuối và vấp ngã, nhưng đã đứng dậy, không chán nản, không để mất phương hướng, không đầu hàng, không bỏ cuộc; người môn đệ sống bởi ơn Chúa, chan hòa ân sủng, bình an, niềm vui của Chúa.
Hội Thánh được xây dựng trên Tảng Đá là tông đồ Phêrô, hay đúng hơn là trên đức Tin vào Chúa Giêsu là "Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16,16; 1 Cr 3,10). Mỗi tín hữu chúng ta phải làm gì để trở thành viên đá sống động xây nên tòa nhà Hội Thánh (x. 1 Cr 3,16-17), hay nên Đền Thờ của Thiên Chúa, có nền móng là các Tông Đồ và Ngôn Sứ, và Đá tảng góc tường là chính Đức Kitô Giêsu" (Ep 2,20)?
Lạy Chúa Giêsu, Chúa tin tưởng và trao trách nhiệm cho người hiểu biết Chúa, yêu mến Chúa và đặt trọn niềm tin nơi Chúa. Chúng con sẽ được Chúa tin tưởng và trao sứ mệnh xây dựng Hội Thánh, nếu chúng con có lòng tin, lòng cậy và lòng mến Chúa. Vậy xin Chúa cho chúng con có một đức tin vững chắc, một lòng cậy trông tín thác và một lòng mến chân thành như Thánh Phêrô để chúng con có thể trở thành một viên đá sống động,góp phần xây nên tòa nhà Hội Thánh. Amen.
(Viết theo “bài giảng tĩnh tâm linh mục GP Phan thiết năm 2010”, ĐGM Giuse Võ Đức Minh).
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Lm Giuse Nguyễn Hữu An