Tìm hiểu Chúa Thánh Thần - DongCongNet sưu tầm

SUY TƯ THẦN HỌC VỀ CHÚA THÁNH THẦN
THẦN KHÍ NHƯ MỘT NGÔI VỊ VÀ NHƯ ÂN HUỆ

Bài 1: THẦN KHÍ, NHƯ MỘT NGÔI VỊ

Có hai vấn đề được đặt ra:

1. Ngôn ngữ Kinh Thánh và ngôn ngữ thần học.

2. Suy tư thần học.

I. THẦN KHÍ, NHƯ MỘT NGÔI VỊ

1. Trước tiên, cần lưu ý rằng những khái niệm: “Ngôi vị”, “bản tính”, “bản thể”, “yếu tính”... được đưa ra trong những bối cảnh nhất định, nhằm phục vụ cho những nhu cầu nhất định: đó là minh định lập trường của Giáo Hội chống lại một số khuynh hướng lạc giáo trong những thế kỷ III, IV,V hoặc muuốn hạ thấp tư thế của Chúa Con và Chúa Thánh Thần đối với Chúa Cha, hoặc muốn hạ thấp tư thế của Chúa Thánh Thần đối với Chúa Cha và Chúa Con... Vì thế, để minh giải có sự phân biệt trong mầu nhiệm Thiên Chúa như là Ba Đấng, ngôn ngữ thần học gọi đó là ‘Ba ngôi vị’, và đồng thời để khẳng định, tuy thế, chỉ có một Thiên Chúa mà thôi, ngôn ngữ thần học đã phải nại tới khái niệm “bản tính” hay “bản thể” của triết học Hy-lạp: Ba ngôi vị cùng chung một bản tính...

2. Thật ra, khái niệm “Ba ngôi” (Trinité) hoàn toàn không có nguồn gốc trong Kinh Thánh. Hạn từ “Ba ngôi” được gặp thấy lần đầu tiên, cách khá kín đáo, nơi Théophile d’Antioche, trong tác phẩm ‘A Autolycos’, II,15 (khoảng năm 180)...

a. Để chỉ có sự phân biệt (distinction) trong Mầu nhiệm Thần linh, ngôn ngữ Kinh Thánh, đặc biệt Tân Ước, không bao giờ sử dụng khái niệm ‘3’ (bằng cách đếm hay cộng lại!) mà đơn giản gọi “Cha, Con, Thánh Thần” như là những Đấng phân biệt với nhau: Cha là Cha bởi vì sinh ra Con và sai Con...; Con là Con bởi vì được sinh ra và được sai bởi Cha... Thánh Thần là Thánh Thần bởi vì là Thần Khí Tình yêu mà nhờ Ngài, bởi Ngài và trong Ngài, Cha và Con yêu thương nhau...

b. Để nói lên sự hiệp nhất (Unité) giữa Cha - Con - Thánh Thần, ngôn ngữ thần học lý giải vì các Ngài có chung cùng một bản tính (une même nature), hoặc đồng bản thể (consubstantiel), còn ngôn ngữ Kinh Thánh thì đơn giản hơn: “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10,30); “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” (Ga 17,21;10,38; 14,11); “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14, 9b;x. 8,19; 12,45; Dt 1,3); “Thiên Chúa (Cha) là Thần Khí” (Ga 4,24); “Thần Khí của Thiên Chúa” (Rm 8, 9.14; 15, 19; 1Cr 6,11; 7,40); “Thần Khí của Đức Kitô” (Rm 8,11); “Thần Khí của Đức Chúa” (2Cr 3,17)...

3. Như vậy, cách chung chung, có thể nói rằng:

a. Sự hiện hữu Cha- Con- Thánh Thần như là những Đấng phân biệt với nhau, đối với ngôn ngữ Kinh Thánh, không phải là “vấn đề” cần được đặt ra”. Vấn đề, nếu có, đối với ngôn ngữ Kinh Thánh, đó là minh giải sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, làm sao: chỉ có một Thiên Chúa (để tránh hiểu lầm và hiểu sai, có lẽ tốt hơn nên dùng hạn từ “Thần Linh”!), một Đức Chúa, một Thần Khí (1Cr 12,4-6). Và:

• Khi nói “chỉ có một Thiên Chúa” là có ý khẳng định: “ Cha là Thiên Chúa”, “Con là Thiên Chúa”,” Thần Khí là Thiên Chúa”; và ngôn ngữ thần học gọi hạn từ “Thiên Chúa” là “bản tính” hay “bản thể” của Cha - Con - Thánh Thần...

• Khi nói “Chỉ có một Đức Chúa” là có ý khẳng định: “Cha là Đức Chúa”, “Con là Đức Chúa”, “Thần Khí là Đức Chúa”; và ngôn ngữ Thần học gọi hạn từ “ Đức Chúa” là “bản tính” hay “bản thể” của Cha - Con - Thánh Thần...

• Khi nói “chỉ có một Thần Khí” là có ý khẳng định: “ Cha là Thần Khí”, “Con là Thần Khí”,” Thánh Thần là Thần Khí” (Ga 4, 24; 2Cr 3,17), hay nói cách khác, “Cha và Con là và có chung một Thần Khí”; và ngôn ngữ thần học gọi hạn từ “Thần Khí” là “bản tính” hay “bản thể” của Cha - Con - Thánh Thần... Như vậy, hạn từ “Thần Khí” đồng thời vừa chỉ bản tính hay bản thể của Cha- Con- Thánh Thần, vừa chỉ một Đấng khác với Cha và Con; và điều đó, nói theo ngôn ngữ thần học, có nghĩa Thần Khí vừa là bản tính hay bản thể của Cha và Con vừa là chính Mình hay, nói cách khác, vừa là một Ngôi vị. Tuy nhiên, không phải là Hữu Thể trong tư cách chỉ là Chủ thể (Être-Sujet) như Chúa Cha, Đấng vốn là “Nguyên lý phi nguyên lý” và “Nguyên lý của mọi nguyên lý”..., Đấng vốn sinh ra Chúa Con và “ ái xuất” (spiration) Chúa Thánh Thần, Thần Khí Tình yêu, và đã sai Chúa Con và Chúa Thánh Thần...

Từ đó, cũng có thể nói rằng, ngoại trừ “tư cách là Cha của Chúa Cha” và “tư cách là Con của Chúa Con”, tất cả những gì thuộc bản tính và cả những thuộc tính (attributs) của Cha và của Con đều là chính Thần Khí: Tình yêu, thần tính và nhân tính của Chúa Con, Tình Cha, tình Con, tình Đức Chúa, hằng hữu, tự hữu, hằng sống, vĩnh hằng, quyền năng, thánh, vinh quang, tác tạo, tác sinh, tái sinh, đá tảng, thuẫn che chở, gió, lửa, đám mây, nước, ánh sáng, bàn tay, ngón tay, chim bồ câu, sức dầu, ấn tín, v.v... Hay nói cách khác, Thần Khí chính là Hành động của Chúa Cha và Chúa Con trong Vĩnh Hằng và trong Lịch sử. Vì thế, trong ngôn ngữ Kinh Thánh, khi Cha biết và yêu là sinh ra Con (x. 1Ga 4,7-8; Rm 8,15.29.32; Cl 1,13.15tt), và khi Cha phán là tạo dựng (St 1,3-31; Ga 1,3)...

b. Sự hiệp nhất Thần linh trong ngôn ngữ Tân Ước được nhìn trong chiều hướng năng động (dynamique) chứ không quá tĩnh tại (statique) như trong ngôn ngữ thần học vốn dựa trên những khái niệm tĩnh tại, ù lì như “bản tính” và “bản thể” (nature est id quo res est id quod est!), và vì thế, đã hẳn không thể nào phản ảnh được cách đầy đủ và hoàn toàn thực tại hiệp nhất thần linh (thử so sánh bức ảnh chụp dòng sông với chính dòng sông!)... Vì thế, những khái niệm triết học như “ Ngôi vị”, ‘bản tính”, “bản thể”, “đồng bản thể”... vốn chỉ là một trong những phương thế, được dùng trong những hoàn cảnh nhất định và với những mục đích nhất định, để tiếp cận với Mầu Nhiệm Thần linh, chứ không phải là con đường duy nhất có thể có, nên chúng cần được rọi sáng và biện minh bởi ngôn ngữ Kinh Thánh chứ không phải ngược lại...

Bài 2: THẦN KHÍ, NHƯ MỘT NGÔI VỊ (tt)

II. SUY TƯ THẦN HỌC: THẦN KHÍ LÀ AI?

1. Vấn đề:

Khi được hỏi: “Chúa Cha là ai?”, người ta có thể trà lời ngay: “Chúa Cha là Cha của Chúa Con”. Và khi được hỏi “Chúa Con là ai?” đã hẳn người ta cũng có thể trả lời ngay: “Chúa Con là Con của Chúa Cha”. Thế nhưng, khi được hỏi “Thần Khí hay Chúa Thánh Thần là ai?”, thì vấn đề lại không đơn giản... Thật vậy, nếu muốn có một câu trả lời như kiểu đối với Chúa Cha và Chúa Con, thì câu hỏi bây giờ trở thành: “Thần Khí là Thần Khí của ai?”. Tuy nhiên, trong trường hợp Chúa Cha và Chúa Con, ngay hai khái niệm “Cha” và “Con” đã tự chứng được định vị (tư cách và chức năng, và cho biết những mối tương quan khá rõ ràng), còn trong trường hợp hạn từ “Thần Khí” thì không được vậy, và câu hỏi về Ngài bấy giờ lại trở thành câu hỏi kép: “Thần Khí là ai (đối với chính Mình) và của ai (đối với Chúa Cha và Chúa Con)?”...

Về Chúa Thánh Thần, những vấn đề đó được đặt ra từ những thế kỷ IV, V (scn). Một số khuynh hướng lạc giáo cho rằng trong mối tương quan với Chúa Cha, vì “được Cha đổ tràn” (Ed 39,29), “được Cha trao ban” (Ga 7,39), nên Thần Khí không thể được coi “ngang hàng” với Cha, thậm chí, có người còn cho Thần Khí là thụ tạo của Cha; và trong tương quan với Chúa Con vì “ được Con sai đi”(Ga 15,26), nên Thần Khí không thể được coi “ngang hàng” với Con, thậm chí có người còn cho Thần Khí do Chúa Con tạo ra... Nhằm đối phó lại những khuynh hướng lạc giáo đó, ngôn ngữ thần học cũng như ngôn ngữ của các Công đồng, công nghị từ thế kỷ IV,V cho đến bây giờ vẫn vậy, nghĩa là tiếp tục sử dụng những khái niệm triết học như: “đồng bản thể” (consubtantiel), “nhiệm xuất” (procession), “ái xuất” (spiration)... để khẳng định “thần tính” của Chúa Thánh Thần, Đấng phải được phụng thờ và tôn vinh hoàn toàn như Chúa Cha và Chúa Con... điều mà người ta có thể nhận ra ngay là cả ngôn ngữ đặt vấn đề, cả ngôn ngữ giải quyết vấn đề đều hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ Kinh Thánh, vốn là ngôn ngữ tình yêu và lịch sử...

2. Thần Khí là ai (đối với chính Mình) và của ai (đối với Chúa Cha và Chúa Con)?

Thử bắt đầu với khái niệm “Ngôi vị”. Ngôn ngữ thần học gọi “Thần Khí là một Ngôi vị”. Thế nhưng, khái niệm “Ngôi vị” tự nó vốn bao gồm hai khái niệm khác, đó là “tư cách” và “chức năng”. Thí dụ: khi nói Cha là một Ngôi vị thì có nghĩa “là Cha” (être Père) chính là tư cách của Ngôi vị đó, và “làm Cha”, tức là “sinh Con” và “yêu thương Con”... chính là chức năng của Ngôi vị đó. Và khi nói Con là một Ngôi vị thì có nghĩa “ là Con” (être Fils) chính là tư cách của Ngôi vị đó, và “làm Con” tức là “đón nhận sự sinh ra và tình yêu của Cha đồng thời đáp trả lại bằng tình con thảo”... chính là chức năng Ngôi vị đó. Thế nhưng, khi nói Thần Khí là một Ngôi vị, thì tư cách và chức năng của Thần Khí là gì.

a. Tư cách của Thần Khí:

Trong tương quan với Chúa Cha và Chúa Con, ngôn ngữ Kinh Thánh vẫn thường gọi Thần Khí cách chung chung, đôi khi có vẻ như thiếu Ngôi vị tính (a-personnel): “được thổi vào hay được hà vào...” (St 2,7; Tv 104,30), “được đặt vào...” (Is 42,1), “được ban cho...” (Ds 11,29; Ga 7,39), “được đổ tràn vào...” (Ed 39,29), “được sai đến...” (Ga 14,26), “...của Cha” (Rm 8, 9.14; 15,19; 1Cr 6,11; 7,40), “...của Con” (Rm 8,11; 2Cr 3,17), v.v... Tuy nhiên, nếu như trong tương quan với Cha và Con, Thần Khí xem ra có vẻ như thiếu Ngôi vị tính, thụ động, tiêu cực..., nhưng trong khi thi hành sứ vụ được giao, ngôn ngữ Kinh Thánh đã cho chúng ta thấy Thần Khí như một Đấng đầy ngôi vị tính, năng động, mạnh mẽ, tích cực, năng nổ (Is 11,1-5; Tl 3,10; 11,29;14,6; 6,34; 1Sm 1,6; 10,1; 16,13; Am 3,8; 7,14t; Gr 20,7t;v.v...)... Đằng khác, nếu nhìn Thần Khí từ góc độ hệ quả của những tác động của Ngài trong Lịch sử, người ta sẽ có thể phát hiện ra được phần nào dung mạo và chức năng của Ngài trong lịch sử và cả trong Mầu Nhiệm Thần Linh vĩnh hằng.

a. Chức năng của Thần Khí:

Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, sự tuôn tràn Thần Khí như cơn mưa đem sự sống cho vùng đất khô cằn (Is 32, 15; 44,3; Ed 36, 25; Gr 3,1t) như sinh khí làm sống động những bộ xương khô (Ed 37); như một cuộc sáng tạo mới thay đổi bộ mặt của xứ sở (Is 32,16), thay đổi con tim, lòng dạ của con người (Is 59,21; Tv 143,10; Ed 36,27); mặc khải dung mạo đích thực của Chúa Cha (Ed 39,29), dung mạo đích thực của Chúa Con (Ga 14,16; 16,7.13t; 14,26); tác sinh (Ga 6, 63; St 1,2; Lc 1,35; Mt 1,18-20); tái sinh (Ga 3,8; Ep 2,1-2); phục sinh (Rm 8,11); mặc khải chân lý (Ga 16,13; Ep 1,17-18; v.v...)

b. Phác thảo một thứ ngôn ngữ Thần Khí học:

Nói chung, có thể nói rằng ngôn ngữ Thần Khí học đích thực phải là thứ ngôn ngữ có tính tình yêu và lịch sử. “có tính tình yêu”, bởi vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,8b) “có tính lịch sử”, bởi vì dung mạo đích thực của Chúa Thánh Thần vốn được biểu lộ qua Hành động Tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con mà chính Ngài là Đấng thực hiện, trong vĩnh hằng và trong lịch sử...

Để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa nói chung, ngôn ngữ Kinh Thánh khi thì sử dụng khái niệm “tình vợ chồng”, “tình yêu nam- nữ” (chủ yếu trong ngôn ngữ Cựu Ước), khi thì sử dụng khái niệm “tình Cha- Con” (Cựu Ước và Tân Ước). Như vậy, có thể nói tình yêu Thiên Chúa là một thứ tình yêu tổng hợp tất cả mọi đặc tính, mọi khả năng tích cực của những thứ tình yêu, hay nói cách khác, mọi thứ tình yêu nhân loại đích thực đều mang dáng dấp hay dấu vết của tình yêu Vĩnh hằng:

1. Sự “tận hiến”, “hiến dâng” (oblation totale): yêu nhau, trước tiên, có nghĩa là trao tặng cho nhau tất cả những gì mình là (être) và mình có (avoir). Và, trong tình yêu Thần linh, quà tặng (Donum, Don) đó chính là Thần Khí tình yêu, vốn là một Đấng, một Ngôi vị được Cha trao ban và được Con đón nhận, và trở thành của Cha và của Con, hay nói cách khác, là “của chúng ta”, hay “ của nhau” (Etre- le Nôtre)... Nói theo ngôn ngữ Augustin, đó chính là Ân huệ của Thiên Chúa (Cv 2,38; Ga 4,10).

2. Qui trình “ra đi- trở lại” (exitus-reditus): thứ đến, yêu nhau có nghĩa là “ra khỏi chính mình” (exitus de soi-même) để đến và hòa nhập với nhau (reditus à nous- même et à soi-même)... Và, trong tình yêu Thần linh, Thần Khí Tình yêu vừa chính là “Đấng ra đi” vừa chính là “Đấng trở lại” của Cha và của Con và của chính Ngài (Ga 10,17-18; 19,30; Cv 2,33).

3. Sự “hiện diện trong nhau và với nhau” (présence reciproque, intériorité reciproque; Hy ngữ: périchorèse; La ngữ: circumincessio): yêu nhau, còn có nghĩa là luôn luôn hiện diện trong nhau và với nhau (những khái niệm thời gian và không gian, ở đây không còn ý nghĩa), đến độ là nhau (Être in personna)... Và trong Tình Yêu Thần linh, chính Thần Khí Tình yêu vừa là Đấng tác sinh ra sự Hiện diện trong và với Nhau đó (sự “tương nhập của Cha-Con-Thần Khí), vừa chính là Đấng, nói theo ngôn ngữ Phaolô, làm cho Cha có thể nói: “Cha sống, nhưng không phải là Cha sống, mà chính Con và Thần Khí sống trong Cha; làm cho Con có thể nói: “Con sống, nhưng không phải Con sống, mà chính Cha và Thần Khí sống trong Con”; làm cho Ngài có thể nói: “Thần Khí sống, nhưng không phải Thần Khí sống, mà chính Cha và Con sống trong Thần Khí” (x.Gl 2,20; Pl 1,21), hay nói cách khác, Thần Khí Tình Yêu chính là Đấng làm cho Cha- Con- Thần Khí là Nhau hay là Một (Ga 10,30; 14,26)... Đó chính là sự sống Tình Yêu Thần linh, sự sống Ba Ngôi, sự sống đời đời...

4. Sự “độc hữu” hay “độc chiếm” (monogamie): Yêu nhau, ngoài ra, còn có nghĩa muốn người mình yêu (Aimé) chỉ thuộc về một mình Mình mà thôi (Aimant): một chồng- một vợ; một cha-một con (ngôn ngữ Cựu Ước cho thấy Thiên Chúa vốn là Đấng hay ghen: Xh 20,5; Is 43,10t; 48,11- ngôn ngữ Tân Ước trình bày Đức Giêsu Ktiô như là “Con Một”(Unigenitus): Ga 3,16; 1Ga 4,9)... Và, trong Tình yêu Thần linh, Thần Khí Tình Yêu vừa không phải là Cha- Đấng yêu thương (Aimant), vừa không phải là Con- Đấng được yêu thương (Aimé), vừa không phải là “kẻ thứ ba quấy rầy”, mà là “ Đấng- Người yêu của chúng ta” (Notre Aimé) đối với Chúa Cha và Chúa Con. Thật vậy, Thần Khí Tình Yêu chính là Đấng hằng” tạo tác”, “ vun đắp”, “tạo điều kiện” cho tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, giữa Thiên Chúa và loài người và giữa loài người với nhau... (ngôn ngữ Kinh Thánh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, không bao giờ nói “Chúa Cha hay Chúa Con yêu Chúa Thánh Thần” và ngược lại, mà chỉ nói “Chúa Cha và Chúa Con yêu nhau trong (en) Chúa Thánh Thần...)...

5. Sự “siêu việt thời gian và không gian” (transcendance du temps et de l’space):

Đối với những kẻ yêu nhau, những khái niệm thời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai; mau hay lâu, nhanh hay chậm, v.v...), không gian (gần hay xa) dường như không còn tồn tại, và không hẳn chỉ là trong ý thức: họ cảm thấy “có nhau” dường như cách vĩnh hằng và từ “Muôn kiếp” họ cảm thấy luôn luôn hiện diện bên nhau và với nhau (đã hẳn họ sẽ mất tất cả những cảm nhận đó khi họ không còn yêu nhau!)... Và trong Tình yêu Thần Linh, chính Thần Khí Tình yêu là Đấng làm cho “thời gian yêu nhau” của Chúa Cha và Chúa Con là Vĩnh hằng và “khoảng cách Cha - Con” hoàn toàn bị xóa nhòa... Và, trong Lịch sử hay trong nhiệm cục Cứu độ, Thần Khí Tình yêu chính là Đấng làm cho toàn thể Lịch sử (thời gian và không gian) hội tụ lại và hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô vôn là Chúa Con - nhập thể, và như vậy, Đức Giêsu Kitô trở thành “Đấng luôn luôn là Hôm nay” (Lc 4,21) của Cha - Con - Thần Khí, “Đấng Hằng hữu” (Ga 8,24.27.57; 13,19), “Sự hoàn tất toàn bộ Lời hứa, Ý định Tình yêu, một lần thay cho tất cả, của Thiên Chúa”... Như vậy, vấn đề còn lại là của con người: đó là vấn đề sở đắc Ân sủng Tình yêu đó (possession de la Grâce). Và trong lịch sử, Thần Khí Tình yêu đồng thời vừa là Đấng làm cho con người từ bỏ những “Quê hương cũ”, những “bây giờ” (maintenants) của riêng mình để mãi mãi “lên đường”, mãi mãi “ra đi”, mãi mãi “xuất hành”, hướng về những chân trời tương lai, theo sự hướng dẫn của Thần Khí Tình yêu, Đấng muốn thổi tới đâu thì thổi (Ga 3,8), những chân trời nhiều khi hoàn toàn mới mẻ, ngoài sức tưởng tượng của con người; vừa là Đấng hiện tại hóa Ân sủng Tình yêu đó (actualiser) để con người mọi nơi và mọi thời đều có thể sở đắc: quá khứ, hiện tại và tương lai. Như vậy, còn có thể nói Thần Khí Tình yêu chính là Dung mạo tương lai của Thiên Chúa...

Bài 3: THẦN KHÍ NHƯ MỘT ÂN HUỆ

Có thể nhìn vấn đề dưới 2 góc độ:

1. Thần Khí, như Ân huệ Chúa Cha và Chúa Con trao tặng cho nhau.

2. Thần Khí, như Ân huệ Chúa Cha ban cho loài người qua Chúa Con.

I. THẦN KHÍ, NHƯ ÂN HUỆ CHÚA CHA VÀ CHÚA CON TRAO TẶNG CHO NHAU:

A. Trong Mầu Nhiệm Tình Yêu vĩnh hằng: trong ngôn ngữ Kinh Thánh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, Thần Khí luôn được gọi là Đấng “được trao ban” hay “chưa được trao ban”, “được sai đi”, “được đổ tràn”, “được đón nhận” (Lc 11,13; Cv 2,4.17.18.38; 8,15.17.18.19; 10,45.47; 15,8; 19,2; Ga 7,39; 14,17.26; Kh 5,6; 1Ga 3,24; Rm 5,5; Gl 3,2.5.14; 1Tx 4,8; Tt 3,5; 1Pr 1,12; v.v...). Điều đó có nghĩa Thần Khí chính là Ân huệ (Donum,Don) là quà tặng Tình Yêu của Thiên Chúa. Thế mà, nếu như “Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,8), và nếu như Chúa Cha là Đấng đã có thể nói với Con độc nhất của mình như: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,17; 12,18; Is 42,1-4; v.v...), “Tất cả những gì của Cha đều là của Con” (Lc 15,31; Ga 17,10)... thì “Quà tặng” đẹp lòng nhau nhất của các Ngài là gì nếu không phải là “tất cả những gì các Ngài là (être) và có (avoir)”? Thật vậy, có thể nói, trừ tư cách là Cha của Mình, Chúa Cha, đã hẳn trao ban cho Chúa Con tất cả những gì Chúa Cha là và có (Thần tính, ngôi vị tính...), nghĩa là tất cả những gì là Mình của Cha. Và, như vậy, “Đấng được ban cho” (Donné) cũng như “ Đấng đón nhận ân huệ (Recevant) đều là và có tất cả những gì Chúa Cha là và có (thần tính, ngôi vị tính trừ tư cách là Cha). Và “Đấng được Cha ban cho Con” (Donné) đó, trong tư cách là “Đấng ra đi khỏi Cha” (Exitus de Soi-Même), được gọi là “Thần Khí Tình Yêu của Cha” (Mt 12,18; Cv 2,17; 1Cr 3,11.12.14.16; 6,11; 1Pr 4,14; 1Ga 4,2; Mt 3,16; 12,28; Rm 8,9.14; 1Cr 7,40; 12,3; Pl 3,3; v.v...). Đồng thời, đón nhận Ân huệ Thần Khí Cha ban cho, trong niềm tri ân và cảm tạ, Chúa Con “trao tặng lại” (Reditus:x. Ga 19,30) Cha “Ân Huệ được Cha ban tặng” và “đã được Con vui lòng đón nhận” như là “ Thần Khí của Con” (Cv 16,7; x. Mt 27,50; Mc 2,8; 8,12; Lc 23,46; Ga 11,33; 13,21; Pl 1,19; Rm 8,9; 1Pr 1,2; Gl 4,6; v.v...). Bởi vì, Con còn quà tặng nào đáng giá hơn là “Thần Khí Tình Yêu” của chính Mình hay là “chính Mình” (Ga 10,17-18)... Như vậy, như là “Ân huệ vĩnh hằng”, Thần Khí của Cha và của Con, Thần Khí Tình yêu là Đấng mãi mãi “sống kiếp lữ hành”, luôn luôn vận hành ở trong qui trình “ra đi - trở lại” để tình yêu của Ba ngôi luôn luôn sống động, trong Vĩnh hằng cũng như trong Lịch sử...

B. Trong lịch sử: Trong biến cố Sáng Tạo - Nhập thể - Cứu độ, Chúa Cha đã sai Thần Khí của Ngài cùng với Con trong một Sứ vụ liên kết là Sáng tạo, Yêu thương và Cứu độ (Mt 12,18; x. Is 11,1-2; GLHTCG số 702)... Chính trong sứ vụ liên kết này mà quá trình “sở đắc Thần Khí của Cha” của nhân tính của Chúa Con - Nhập thể diễn ra trong lịch sử. Nói như thế là bởi vì trong tư cách là Thiên Chúa (thần tính), Chúa Con - Nhập thể, Chúa Cha và Thần Khí, dù trong Lịch sử, vẫn luôn hiện diện trong nhau và với nhau nên như Một (Ga 10,30; 17,21; x. 10,38; 14,11; 14,9b; x. 8,19; 12,45; Dt 1,3). Việc nhân tính của Đức Giêsu sở đắc Thần Khí của Cha được thực hiện qua những Hành động yêu thương của Ngài đối với Chúa Cha, Thần Khí và loài người, trong lịch sử, và chỉ được hoàn tất trọn vẹn trong hành động tận hiến tột đỉnh trong Tình Yêu của Ngài trên Thập giá khi Ngài “giao nộp lại” Chúa Cha Thần Khí (Ga 19,30), và, chính giây phút đó, cái, “nghịch lý của Tin Mừng” đã xảy ra, để “tưởng thưởng” cho tình yêu tuyệt đối của Con đối với Cha, Chúa Cha đã “tuôn tràn Thần Khí” xuống trên con người (nhân tính) của Chúa Con - nhập thể, và chính lúc đó quá trình sở đắc Thần Khí của Cha nơi nhân tính của Đức Giêsu hoàn tất: nhân tính của Đức Giêsu được thần linh hóa vì tràn ngập Thần Khí, và trở nên hoàn toàn hiệp nhất với thần tính của Ngài ( Mt 16,24-25; Mc 8,34-35; Lc 9,23-24; Ga 3,14-21; 8,27-29), và tất cả những ai thông hiệp với Ngài sẽ được thần linh hóa như Ngài: đó chính là “ Lời hứa” của Chúa Cha (Cv 1,4; Lc 24,49; Cv 2,17) và cũng là niềm Hy vọng của loài người...

II. THẦN KHÍ, NHƯ ÂN HUỆ CHÚA CHA BAN CHO LOÀI NGƯỜI QUA CHÚA CON

“Thiên Chúa phán: trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên hết thảy người phàm...” (Cv 2,17; x. Ge 3,1-5).

“Khi Đấng Bảo trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí Sư thật phát xuất từ Chúa Cha...” (Ga 15,26).

A. Cảm nghiệm của các Tông đồ: Sau ngày Lễ Ngũ Tuần, các Tông đồ có cảm nhận như họ bị xâm chiếm bởi một “sức mạnh” vượt lên trên bản thân họ. Họ cảm thấy như thần trí của mình có một Thần Khí Khác xâm chiếm vượt lên trên, như có một Thần Khí Khác đã được sai đến, đã được ban cho, đã được tuôn tràn trong họ và họ đã được đón nhận (Lc 11,13; Cv 2,4; v.v..). Đồng thời, họ cũng cảm nhận rằng nỗ lực sáng kiến riêng tư của họ như được vượt quá, được nâng cao bởi Hành động của Đấng đang hiện diện bên trong họ, đang “giúp đỡ” họ, “hướng dẫn” họ, “lôi kéo” họ, “sai phái” họ, “thúc đẩy” họ, “ra lệnh” cho họ, “ngăn cấm” họ, v.v... (Cv 21,4; 13,4; 15,28; 16,6; 20,28; 8,39; Ga 16,13; Rm 8,14.26; Gl 5,16; 2Pr 1,21)...

B. Như một Hiện Diện thuộc linh hết sức thân mật: các Tông đồ dù không bao giờ có cảm nhận là Thần Khí của họ trở thành Thần Khí đó: vẫn có một sự phân biệt giữa hai bên (Rm 8,16; Cv 15,28; x. Cv 5,3), nhưng mối quan hệ lại rất thân mật với lối nói luôn luôn trên môi miệng của họ: “trong Thần Khí”(Rm 8,9; Mt 3,11; Lc 3,16; Ga 1,33; Cv 1,5; v.v...). Một điều đặc biệt đó là hình như Thần Khí chỉ “linh hứng”, “báo trước”, “mặc khải”, “tiên báo”, “dạy dỗ”,v.v... trong và qua Giáo Hội mà thôi (Lc 12,12; Cv 6,10; 11,28; 20,23). Đàng khác, họ tự gọi mình là “các thánh”, có lẽ nhằm ám chỉ đặc tính họ được Thần Khí xâm chiếm và siêu vượt lên trên, bởi vì Cựu Ước vẫn gọi Thần Khí là Thánh Thần... Đó chính là những công việc mà Thần Khí của Đức Giêsu Kitô- Phục sinh đã, đang và vẫn tiếp tục tiến hành bên trong lịch sử, với mục đích thần linh hóa con người và vũ trụ hầu Thiên Chúa trở thành mọi sự cho mọi người. (1Cr 15,28)...

(Lưu ý: phần II được soạn theo tư tưởng của Lm. Paul Aubin, le Monothéisme chrétien, Ronéotypé, GHHV Pio X, Đà Lạt, tr. 35-36)

Bài 4: THẦN KHÍ SỰ SỐNG

Có 2 vấn đề cần được được ra:

1. Khái niệm “sự sống” trong ngôn ngữ Kinh Thánh.

2. Chúa Thánh Thần, Thần Khí sự sống vĩnh hằng và lịch sử.

I. KHÁI NIỆM “SỰ SỐNG” TRONG NGÔN NGỮ KINH THÁNH

A. Trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi, bởi vì là “Thiên Chúa hằng sống, hằng hữu, và tự hữu” (Xh 3,14; Is 42,8; Ga 8,24.57; Gs 3,10; Tv 42,3; Dnl 6,21; 1V 18,10; v.v...), nên Sống có nghĩa là các Ngài “biết nhau”, “yêu thương nhau”, “hướng về nhau”, “ hiện diện trong nhau, vì nhau và với nhau”, “có tương quan mật thiết với nhau”, v.v... (Gr 2,13; Tv 36,10; 63,4; 84,11; Am 5,4tt; Hs 6,1tt; Ga 1,1-2.4; 14,6; 11,12...). Đó là điều mà ngôn ngữ Tân Ước gọi là “sự sống đời đời” (Mt 19,16tt. 29tt; 7,14; 18,8tt; Ga 4,14; 6,27-58; 11,25tt; 3,36; 12,47-50...).

B. Đối với các thụ tạo (trừ các thiên thần?) mà hiện hữu vốn là hiện hữu được ban cho và được đón nhận trong thời gian và không gian, nghĩa là đã có lúc không hiện hữu và sẽ có lúc không còn tồn tại, thì Sống, ngoài ý nghĩa “sự Sống đời đời” (đây là ý nghĩa chính thức và quan trọng), còn có nghĩa:

1. “Bắt đầu hiện hữu”:

- Nghĩa đen: “bắt đầu hiện hữu” và “bắt đầu sống” đồng nghĩa với nhau (đời sống khoáng vật, thực vật, sinh vật).

- Nghĩa bóng: “bắt đầu hiện hữu” không nhất thiết có nghĩa là “bắt đầu sống” (đời sống luân lý: thí dụ: những kẻ vô đạo “vừa mới sinh ra đã thôi hiện hữu” Kn 5,13)...

2. “Sống lại”:

- Nghĩa đen: chết, rồi sống lại nhưng chưa phải là sự sống đời đời (như trường hợp con gái ông Giairô, con trai góa phụ thành Naim, Lazarô.../ Mc 5,21-42tt; Lc 7,11-17; Ga 11/)...

- Nghĩa bóng: lập lại mối tương quan thân tình với Cha và anh, chị em; lại được Cha tìm thấy (Lc 15,21.32). Như vậy đồng nghĩa với “được sinh lại bởi ơn trên” (Ga 3,5.7), “được Thiên Chúa sinh ra” (1Ga 4,7b)...

- Nghĩa thực thụ: chết, rồi sống lại và được hoặc không được tham dự vào Sự sống Ba Ngôi (trong Lịch sử: sự sống lại hay Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô; “ giờ” phán xét cánh chung/ Kh 14,12-13; Lc 20,34-38; Mt 25,31-46/).

II. CHÚA THÁNH THẦN, THẦN KHÍ SỰ SỐNG VĨNH HẰNG VÀ LỊCH SỬ

A. Sự sống Ba Ngôi trong Mầu nhiệm Thiên Chúa:

Nếu, nói theo ngôn ngữ của Gioan, “sự Sống đời đời là nhận bết Cha, Thiên Chúa duy nhất và Chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3), thì, đã hẳn, ngoài Chúa Cha và Chúa Con ra chẳng ai “có” được sự Sống đời đời cách như Chúa Thánh Thần. Thật vậy, Thần Khí Thiên Chúa không những “biết” (có tương quan mật thiết với) Chúa Cha và Chúa Con, mà chính Ngài là Đấng thực hiện Hành động “biết” đó để Ba Ngôi Cha - Con - Thần Khí” biết nhau”; và các Ngài không chỉ “biết nhau” mà còn “là nhau”; (hay “là Một”) nữa... Có thể nói rằng, trong Thực tại sự sống Ba Ngôi vĩnh hằng, nếu không có Thần Khí Tình Yêu là Chúa Thánh Thần, Chúa Cha chẳng thể nào “sinh ra” Con và “biết” được Con, và Chúa Con cũng chẳng thể nào “đón nhận” được sự “ sinh ra” của Cha như Ân huệ Tình yêu và “biết” được Cha và “Ân huệ Tình yêu” (Donum) nầy. Như vậy, có thể nói rằng không có Thần Khí tình yêu là Chúa Thánh Thần thì không có sự sống Ba Ngôi vĩnh hằng, hay nói cách khác, Chúa Thánh Thần chính là Đấng tác thành sự sống Thần linh vĩnh hằng của Thiên Chúa Ba Ngôi. Và, nếu Thiên Chúa là “Thiên Chúa Hằng sống”, thì Hành động tác thành sự Sống vĩnh hằng đó cũng phải là Hành động vĩnh hằng, và, trong Lịch sử, Hành động tác thành sự sống đó luôn luôn là “cái Hôm nay” (l’Aujourd’hui) và “cái Bây giờ” (le Maintenant) đối với Ba Ngôi và đối với tất cả những ai được Thần Khí Tình Yêu hướng dẫn hoặc để cho Ngài hướng dẫn. Bởi thế, đối với các Sứ ngôn, sự sống chính là “tìm kiếm Giavê” (Am 5,4tt; Hs 6,1tt): “sống, đó là tìm kiếm Thiên Chúa, nhưng, sống cách dồi dào, đó là gặp gỡ được Ngài” (Bruno Forte, la Trinité comme Histoiré, Nouvelle Cité, Paris 1989, p.178).

B. Sự sống của các thụ tạo (trừ các thiên thần?!):

1. Sự sống như là “được hiện hữu” (“con cám ơn Đức Chúa Trời... chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời, mà lại sinh ra con...”): đối với với các Thụ tạo mà sự hiện hữu là được ban cho hay được đón nhận từ Thiên Chúa thì “ không có bột không thể gột nên hồ” được (ex nihilo nihil fit), nhưng đối với Thiên Chúa vừa hằng sống, tự hữu, hằng hữu và toàn năng thì không như thế. Nói theo ngôn ngữ của Karl Barth, quyền Chúa Tể (la seigneurie) của Thiên Chúa hệ tại ở chỗ Ngài là Chúa tể cả “cái có” và “cái không”, cả “cái hiện hữu” và “cái không hiện hữu”, cả sự sống và sự chết - nếu không thế Ngài chẳng thể là Đấng Toàn Năng- nghĩa là Ngài có thể làm cho hiện hữu cái không hay chưa hiện hữu, làm cho sống cái đã chết và làm cho chết cái đang sống, v.v..., nếu Ngài muốn. (x. Karl Barth, Dogmatique, I,I,2, p.88). Hay nói cách khác, đối với Thiên Chúa Tự hữu, Hằng hữu, Hăng sống, chẳng có gì là không tuyệt đối” cả, mà chỉ là “chưa hiện hữu” hoặc “không còn hiện hữu”... Vì thế, ngôn ngữ thần học và phụng vụ nói “công trình Sáng tạo được thực hiện do Chúa Cha, bởi Chúa Con, nhờ Thần Khí (của Cha và của Con), hay nói cách khác, nhờ Sức mạnh Toàn năng của Lời của Chúa Cha“(St1,1-2, 4a; Tv 33,6; 104,30; 2Mcb 7,28; 2Cr 4,6; Rm 4,17; Cv 17,28; 1Tm 6,13; Kh 10,6; Ga 1,1-10; v.v...).

2. Sự Sống do “được tái sinh” hay “được cứu độ”: đối ứng với việc sinh ra tự nhiên của con người, ngôn ngữ Kinh Thánh, đặc biệt Tân Ước còn nói tới sự sinh ra siêu nhiên mà nguyên lý là “do Chúa Cha, bởi Lời của Chúa Cha tức là Chúa Con, nhờ Thần Khí của Chúa Cha đã được Đức Giêsu Kitô Phục sinh sở đắc cách trọn vẹn và tròn đầy (và vẫn được gọi là Thần Khí của Đức Kitô Phục sinh)” hay nói cách khác, “nhờ Tin-Cậy-Mến và Phép rửa “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần-trong tư cách là Thần Khí của Đức Kitô- Phục sinh”: đó chính là Sự Sống đời đời mà con người có thể “nếm trải” ngay khi còn tại thế (Ga 3,14-21; 8,27-29; 6,35-40; 10,17; 14,15-20.23-26; 16,7-15; 15,26; Tt 3,5; Rm 8,15tt; Gl 4,6; 1Pr 2,1; Gc 1,21; 1Pr 1,14.22tt; 1Ga 3,9tt; Rm 6,5; Ga 17,3; v.v..).

3. Sự Sống bên kia sự Chết và tiêu hủy hoàn toàn sự Chết: Ngôn ngữ Cựu Ước có đề cập đến sự Sống lại sau khi chết nhưng chỉ mới cách chung chung: “Thiên Chúa sẽ trả lại tinh thần và sự sống cho họ... Họ uống nguồn sống không hề cạn khô” (2Mcb 7,23.36; Ed 33,11; 37,11-14; Is 53,10). Ngôn ngữ Tân Ước, có vẻ rõ ràng hơn, khẳng định sự sống lại sau khi chết đáng mơ ước đó là được “ở với Đức Kitô” (Lc 23,43; Pl 1,23; x. 2Cr 5,8; 1Tx 5,10), hay nói cách khác, được “ở trong Thần Khí của Đức Kitô Phục sinh”, “được Thần Khí của Đức Kitô - Phục sinh hóa hoàn toàn”... và niềm hy vọng cánh chung đó là lúc Thần Khí của Đức Kitô Phục sinh Kitô-hóa mọi sự và mọi người, và Đức Kitô, lúc đó, sẽ là Chúa tể mọi loài, mọi vật. Và lại một lần nữa, Đức Giêsu Kitô lại thực hiện một cử chỉ Tận hiến tột cùng trong tình yêu đó là “giao nộp lại” cho Cha Thần Khí của chính Mình Ân huệ của Cha, dung mạo cánh chung của Thiên Chúa và của con người (x. Ga 19,30; 1Cr 15,24. 28), và lúc đó, con người trở nên giống như Thiên Chúa và thấy được Ngài đúng như Ngài là, mặt đối mặt (1Ga 3,2): đó là bản chất của đời sống vình cửu (Ga 17,3)... và, lúc đó, Thiên Chúa trở thành mọi sự trong mọi người (1Cr 15,28)...

Bài 5: BẢY ÂN HUỆ CỦA CHÚA THÁNH THẦN

I. NHẬN XÉT:

1. Ở Việt Nam, hiện nay, đang có một tình trạng lẫn lộn, thiếu thống nhất trong cách hiểu và dịch thuật 7 khái niệm này mà vốn là nền tảng và cơ sở để hiểu về Chúa Thánh Thần và Bí tích Thêm sức...

2. Tình hình đó có lẽ phát xuất, một đàng, từ chỗ cái “logic” của Is 11,1-2 vẫn chưa được quán triệt cách sâu sắc và đúng đắn: người ta sẽ thấy rõ điều đó khi thử so sánh cách dịch và cách xếp thứ tự các ân huệ nơi một số dịch gỉa Việt Nam, như Lm. Nguyễn Thế Thuấn trong bản dịch Kinh Thánh trọn bộ, Gm. Paul Bùi Văn Đọc trong tác phẩm tập thể “Chúa Thánh Thần, Đấng Ban Sự Sống” (tr. 292-293), nhóm soạn bộ Giáo Lý Hồng Ân của TGM. Xuân Lộc trong “Lớn lên trong Chúa Thánh Thần, Đấng Ban sự sống”(tr. 87-94), Ủy Ban Giám Mục về Phụng vụ trong bản dịch về Bí tích Thêm sức, v.v...; đàng khác, từ chỗ một nền thần học về Chúa Thánh Thần vẫn chưa được nghiên cứu kỹ và sâu ở Việt Nam...

II. NGUỒN GỐC CỦA KHÁI NIỆM “BẢY ÂN HUỆ”:

1. Lịch sử: đã thấy xuất hiện trong ngôn ngữ phụng vụ khoảng cuối thế kỷ IV (thánh Ambroise de Milan và ĐGH. Sirice 385)..

2. Kinh Thánh: từ Is 11,1-2. Trong Is 11,1-2, chỉ có 6 ân huệ. Có lẽ một số dịch gỉa Hy lạp và cả Latinh khi dịch Is 11,1-2 đã tách đôi ân huệ thứ 6 “sự kính sợ Thiên Chúa” ra thành hai và thêm vào đó một ân huệ nữa cho đủ con số 7, biểu tượng của sự phong phú, đầy tràn, đó là khái niệm eusebes/ eusebeia hoặc pietas mà vốn không có tương đương trong ngôn ngữ Hipri, và rồi sau đó đã đi vào ngôn ngữ phụng vụ... Để dễ dàng so sánh đối chiếu giá trị một số bản dịch Việt ngự hiện nay, xin mạn phép trích ra đây 2 bản dịch Pháp ngữ quan trọng:

a. Is 11,1-2 qua bản dịch của Bible de Jerusalem:

“... sur lui repose l’Esprit de Yahvé

Esprit de sagesse et d’intelligence,

Esprit de conseil et de force.

Esprit de science et de crainte de Yahvé”.

b. Cuốn GLHTCG, 1992:

“... donne-leur en plénitude l’Esprit qui reposait sur ton Fils Jésus:

Esprit de sagesse et d’intelligence,

Esprit de conseil et de force,

Esprit de connaissance et d’effection filliale:

Remplis-les de ‘Esprit de la crainte de Dieu...”

III. THẦN HỌC VỀ 7 ÂN HUỆ CỦA CHÚA THÁNH THẦN:

Trước tiên, cần lưu ý là một thứ thần học về Chúa Thánh Thần hay về những ân huệ của Ngài chỉ có thể hiểu được khi được định vị:

• Trong Hành động của Thiên Chúa Ba Ngôi

• Trong Kế hoạch Mặc khải cứu độ của Ba Ngôi vốn được diễn ra trong Lịch sử...

Thật vậy, chính trên nền tảng của chân trời đó, người ta mới có thể phát hiện ra được cái “logic nội tại” ẩn tàng trong Is 11,1-2, và áp dụng của Giáo Hội đối với bản văn này và trong Bí tích Thêm sức.

1. Thần Khí Khôn ngoan và thông hiểu:

Là “Ân huệ Thần Khí” giúp con người luôn ở trong tư thế “tìm kiếm Thiên Chúa và Thánh ý của Ngài” (Am 5,4tt; Mt 7,8; Is 59,2; Kn 1,1; Xp 2,3; Tv 22,27; Dnl 3,39tt; Cv 3,27; Gr 29,14; Tv 69,33; Ga 8,21; Pl 3,8.12; Rm 10,3; Cl 3,1; Ga 13,33; v.v...), đồng thời hiểu được đâu là Thánh ý Chúa, cái gì tốt, cái gì xấu... (Ga 6,44; 14,26; Rm 12,2; Cl 1,9; v,v...).

Thử so sánh đối chiếu các khái niệm “Thần Khí khôn ngoan và thông hiểu” của Is 11,1-2 với Ga 14,6 “chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống “ với kinh nghiệm của Khổng Tử, một hiền triết Đông Phương: “Ta 15 tuổi để trí vào việc học Đạo; 30 tuổi, biết tự lập (tự mình theo chính Đạo); 40 tuổi, không còn nghi hoặc về Đạo; 50 tuổi, biết Mệnh trời; 60 tuổi, đã biết theo Mệnh trời; 70 tuổi, theo lòng muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ Đạo lý” (Luận ngữ, II.4).

2. Thần Khí định liệu và mạnh bạo: là “Ân huệ Thần Khí” giúp con người có được những quyết định đúng đắn được cân nhắc kỹ lưỡng cho cuộc sống hiện tại và tương lai của mình, hợp với Thánh ý Thiên Chúa và mang lại hạnh phúc đích thực, đồng thời có đủ mạnh bạo thực hiện những quyết định đó (Lc 11,28; 14,28-33; 12,57-59; 12,47; Mt 7,21; 21,31; Dt 13,21; Pl 2,13; v.v...).

3. Thần Khí nhận biết và hiếu thảo: là “Ân huệ Thần Khí” giúp con người biết được:

a. Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa duy nhất và chân thật;

b. Mối quan hệ giữa Thiên Chúa và Đức Giêsu là mối quan hệ Cha-Con trong vĩnh hằng và trong lịch sử, đồng thời là Đấng sai đi Đấng được sai đi (Ga 17,3).

c. Mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người là mối quan hệ Cha-Con nhờ được thông hiệp với tình Phụ-Tử của Đức Giêsu Kitô (Mt 6,9; Rm 8,29; Gl 3,26; 4,5tt; Dt 12,5-12).

d. Mối quan hệ nhân loại với nhau là tất cả mọi người đều là anh, chị, em với nhau vì cùng có chung Thiên Chúa là Đấng Tạo thành và là Cha (Mt 6,9; 2Pr 1,4).

e. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người và muốn mọi người đều được cứu rỗi (1Tm 2,4).

f. Vì thế, con người cần đáp trả lại tình yêu Thiên Chúa bằng “tình con thảo” (1Ga 4,7-8; Gl 4,6)...

4. Thần Khí kính sợ Thiên Chúa.

Là “ân huệ Thần Khí” giúp con người luôn có được những thái độ, những tâm tình đúng đắn và quân bình “vừa yêu vừa kính sợ” đối với Thiên Chúa, Đấng vừa đáng sợ vừa đáng yêu (Mysterium tremendum et fascinosum) (Ml 1,6; Dnl 10,12; Cn 1,7; Cv 10,34tt).

Như vậy, với cái vẻ bên ngoài thoạt tiên có vẻ như không ăn nhập vào đâu, Is 11,1-2 quả thực có cái “logic nội tại” sâu sắc của nó. Qua những phân tích khái quát và sơ lược trên đây, có thể coi Is11,1-2 như là tóm lược toàn bộ quá trình Mặc khải mầu nhiệm Thiên Chúa và quá trình đáp trả từ phía con người. Việc nghiên cứu và phân tích từng ân huệ trong những bài sau đây sẽ còn cho thấy rõ hơn những điều đó...

Linh mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung


dongcongNet sưu tầm 2010

INDEX

 
Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng Tỉnh Dòng) - web@dongcong.net (webmaster)