Tìm hiểu Chúa Thánh Thần - DongCongNet sưu tầm

SUY TƯ THẦN HỌC VỀ CHÚA THÁNH THẦN
THẦN KHÍ NHƯ MỘT NGÔI VỊ VÀ NHƯ ÂN HUỆ

Bài 6: THẦN KHÍ KHÔN NGOAN

Ở đây, có 2 vấn đề được đặt ra:

1. Ý nghĩa sự Khôn ngoan trong ngôn ngữ Kinh Thánh.

2. Chúa Thánh Thần, Thần Khí khôn ngoan.

I. SỰ KHÔN NGOAN TRONG NGÔN NGỮ KINH THÁNH

a. Trong ngôn ngữ Cựu Ước

- Nguồn gốc: có thứ khôn ngoan do con người sở đắc được nhờ học hỏi hoặc nhờ kinh nghiệm, tuy nhiên có thể mang nội dung luân lý tôn giáo và cũng có thể không (Xh 28,3; 2Sm 13,3; G 8,8; Gr 2,8; Gv 39,1tt.8; 51,23; Cn 20,22-24; 22,2.4.22tt; 24,21; 25,21tt; 29,13;v.v...); và nền tảng của sự khôn ngoan có mang nội dung luân lý tôn giáo là Sự Kính Sợ Yahvé: người khôn ngoan ở đây, là người biết làm điều đẹp lòng Thiên Chúa và tránh điều mà Ngài không hài lòng (Cn 1,7; 9,10; Gv 1,11-21; 19,20; G 28,12tt; Cn 6,16; 8,13; 11,20; 12,22; Gv 1,27; Kn 4,10.14; 7,14.28) hay nói cách khác, đó là tuân theo Lề Luật (Gv 15,1; 19,20; Br 4,1)... có thứ khôn ngoan do Thiên Chúa ban cho (G 28,12-27; Br 3,15-38; Is 28,29; Xh28,3; St41,8.38-39; Dnl 1,17; Kn 7,20; Ds 11,17.25; Dnl 1,13; Cn16,10; 2Sm 14,17.20; 1V 3,11.28; 2Sm 16,23; Is 11,2-5; v.v...). Như một sự hiểu biết siêu nhiên và đồng nghĩa với Thần Khí của Thiên Chúa (St 41,8.38; Dnl 34,9; Is 11,2-6; Dnl 4,5tt; Kn 7,22;1,4tt; 9,17; v.v...).

- Bản tính: chưa rõ ràng được coi như là một Ngôi vị, đúng hơn, sự Khôn Ngoan ở đây là một thực hữu có tính thần linh mới chỉ là một đặc tính hay thuộc tính mà thôi, dù đó là một thực hữu đã có từ muôn thuở và sẽ còn mài mãi (Cn 8,22-26; Hc 24,9), thoát ra từ miệng Đấng Tối Cao như một hơi thở hoặc Lời của Ngài (Hc 24,3), Hơi thở của quyền năng Thiên Chúa, loan truyền vinh quang của Đấng Toàn Năng, phản chiếu ánh sáng vĩnh cữu, gương soi hoạt động của Thiên Chúa, hình ảnh sự tuyệt hảo của Ngài (Kn 7,25tt), ở trên trời (Hc 24,4), thông phần ngai báu của Thiên Chúa (Kn 9,4) và sống thân mật với Ngài (Kn 8,3) (theo Điển ngữ Thần học Thánh Kinh).

b. Trong ngôn ngữ Tân Ước: Đức Giêsu được gọi là “Sự Khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1,24.30), sự Khôn Ngoan mặc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa (1Cr 2,6tt), là tột đỉnh của sự hiểu biết tôn giáo (Cl 1,9). Và những gì Cựu Ước đã gán cho Sự Khôn ngoan thì Tân Ước lấy lại gán cho Đức Giêsu, như: là Trưởng tử trước mọi tạo vật và là Tác nhân cuộc sáng tạo (Cl 1,15tt; x. Cn 8,22-31), tỏa sáng vinh quang Thiên Chúa và là hình ảnh bản thể Thiên Chúa (Dt 1,3; x.Kn 7,25tt), là Sự Khôn ngoan của Chúa Cha vì cũng là Lời của Ngài (Ga 1,1tt)...

Là Sự Khôn ngoan mặc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa, Đức Giêsu, như vậy, vừa mặc khải cho biết sự Sống đích thực bên trong Thực tại thần linh vĩnh hằng, vừa mặc khải cho biết Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi diễn ra trong lịch sử, như một lịch sử tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi đối với nhau và với loài người chúng ta, lịch sử của một tình yêu hoàn toàn vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên giới... Đó chính là sự Khôn ngoan đích thực mà Thiên Chúa muốn mặc khải cho con người, sự Khôn ngoan mà thế gian lại coi như là điên rồ (Rm 1,21tt; 1Cr 1,21; 1Cr 2,8), và chỉ được mặc khải ra cho những con người “bé nhỏ” luôn luôn tìm kiếm và sẵn sàng vâng nghe Thần Khí của Thiên Chúa (1Cr 2,10-16; 12,8; Ep 1,17; Mt 11,25tt; 1Cr 2,7tt; Rm 11,33tt; Gl 2,3).

II. CHÚA THÁNH THẦN, THẦN KHÍ KHÔN NGOAN:

Đã hẳn, người ta có thể nói Chúa Thánh Thần là Thần Khí Khôn ngoan bởi vì Ngài là Thần Khí của Chúa Con (Gl 4,6; Rm 8,9; 2Cr 3,17), nhưng người ta cũng có thể nói điều ngược lại. Tuy nhiên, phải hiểu những điều đó như thế nào?

Trong ngôn ngữ thần học, người ta khẳng định Chúa Cha được mặc khải qua Chúa Con, Chúa Cha và Chúa Con được mặc khải nhờ Chúa Thánh Thần (x. GLHTCG, các số 238-248). Còn ngôn ngữ Kinh Thánh thì không chỉ gọi Chúa Thánh Thần là Thần Khí của Chúa Con mà còn là Thần Khí của Chúa Cha hay Thần Khí của Thiên Chúa (chữ Thiên Chúa trong Tân Ước chỉ Chúa Cha, x. 1Cr 8,6). Như vậy, khi khẳng định Chúa Thánh Thần là Thần Khí Khôn ngoan, thì một đàng, vừa có nghĩa Chúa Thánh Thần là Thần Khí của sự Khôn ngoan của Chúa Cha được mặc khải qua Chúa Con là chính sự Khôn ngoan được tác sinh và ban tặng bởi Chúa Cha; đàng khác, vừa có nghĩa Chúa Thánh Thần là Thần khí của sự Khôn ngoan được tác sinh và ban tặng là chính Chúa Con, trong mối tương quan tình yêu Phụ - Tử vĩnh hằng: đó chính là sự sống thần linh, là hạnh phúc đích thực, là Khát vọng muôn đời của tất cả mọi người... Hay nói cách khác, Chúa Cha là Đấng tác sinh và trao ban sự Khôn ngoan là Chúa Con trong và nhờ Thần Khí Khôn ngoan là Chúa Thánh Thần. Trong nội tại thần linh, chính Thần Khí Khôn ngoan là Hoạt động vĩnh hằng của tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa Ba Ngôi, một tình yêu hoàn toàn vô vị lợi, vô điều kiện và vô biên giới...

Đàng khác, nếu như kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa vốn được diễn ra trong lịch sử là kế hoạch cứu độ (do chính cái tên Giêsu của Chúa Con-nhập thể mà trong ngôn ngữ Hipri là Yehôsa hay Yesa và có nghĩa là “lạy Yavê, xin hãy cứu!”), thì có thể nói rằng sự Khôn ngoan đồng nghĩa với sự Cứu độ hay sự Sống đời đời, sự Sống thần linh; và người khôn ngoan chính là con người được cứu độ, được tha thứ, người có sự sống thần linh, sự sống đời đời hay sự Sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi, v.v... (Kn 8,3; 7,27;1Cr 2,6tt; Ep 3,10; 1Cr 2,10-16; 12,8; Ep 1,17; Ga 15,9-17; 17,3; Mt 11,25tt...); hay, nói theo ngôn ngữ của Phaolô, đó là sự Sống mà trong đó Thiên Chúa là tất cả, và trong Ý định tình yêu của Ngài, nơi mọi sự và nơi mọi người (1Cr 15,28; Pl 1,21; x. Am 5,4tt; Hs 6,1tt)...

Kết luận:

Như vậy, Chúa Thánh Thần, Thần Khí Khôn ngoan là Đấng hiện diện trong toàn bộ quá trình tìm kiếm Thiên Chúa của con người, sự tìm kiếm mà theo ngôn ngữ của các Ngôn sứ Amốt và Hôsê đó chính là nỗ lực làm cho sự sống của con người đạt được ý nghĩa đích thực của nó (Am 5,4tt; Hs 6,1tt), thông qua việc “nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và Chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3), và cuối cùng là “Thiên Chúa trở thành là tất cả trong mọi sự, nơi mọi người” (1Cr 15,28).

Sự “nhận biết” đó chính là sự Khôn ngoan đích thực, là sự Sống đích thực và là niềm hạnh phúc đích thực...

Bài 7: THẦN KHÍ THÔNG HIỂU

Có 2 vấn đề được đặc ra:

1. Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, “hiểu” (intelligence) và “biết” (consnaissance) là gì?

2. Chúa Thánh Thần, Thần Khí Thông Hiểu.

I. “HIỂU” VÀ “BIẾT” TRONG NGÔN NGỮ KINH THÁNH:

Trong ngôn ngữ Sêmita, khái niệm “biết” (gốc Hipri là yd) không được hiểu trong khung cảnh tri thức, mà là trong khung cảnh đời sống, và nó vượt qua những thứ tri thức trừu tượng và được diễn tả như là một liên hệ hiện sinh: biết một cái gì hay một ai chính là có kinh nghiệm cụ thể về cái đó hay có những liên hệ cá nhân với người đó. Và, vì những liên hệ có thể mang rất nhiều hình thái và bao hàm rất nhiều cấp độ (ordres), “biết” cũng có thể mang nhiều hình thái và cấp độ khác nhau. Có lẽ chính trong chân trời đó mà Is 11,1-2 đã phân biệt ra thành 2 khái niệm “hiểu” (esprit d’intelligence) và “biết” (esprit de connaissance): khái niệm “hiểu” nhằm diễn tả một thứ “biết” mà mối liên hệ còn ở trình tạng chung chung, mờ nhạt, chưa sâu sắc, và còn ít tính liên vị, giữa chủ thể và đối tượng: thí dụ, trong trường hợp đối tượng là Thiên Chúa, người ta mới chỉ nhận ra là như là Đấng Hóa Công, Tạo hóa, Ông Trời, v.v... Ở đây, cần phải ghi nhận ngay rằng trong kiến thức tôn giáo, mọi sự đều bắt đầu do sáng kiến của Thiên Chúa: trước khi biết Thiên Chúa, người ta đã được Thiên Chúa biết đến... Điều đó có nghĩa là nguyên nhân của việc dừng lại ở tình trạng “hiểu” chung chung, ít tính liên vị, không phải do Thiên Chúa, mà do chính con người sống trong tình trạng vắng bóng tình yêu, hay nói cách khác là do con người tự khép kín lại trên chính mình mà không mở toang cõi lòng mình ra với tha nhân và tha thể. Hay nói theo ngôn ngữ triết học, để hiểu biết được con người và Thiên Chúa, người ta cần phải có một “sự hiểu biết qua trái tim” (l’intelligence du cœur) và một “sự hiểu biết của tình yêu” mà theo ngôn ngữ các bậc thầy linh đạo là một trong những ân huệ của Chúa Thánh Thần.. .

II. CHÚA THÁNH THẦN, THẦN KHÍ THÔNG HIỂU:

Khi nói Chúa Thánh Thần, Thần Khí thông hiểu, một đàng, là có ý nói rằng trong Thực Tại Vĩnh Hằng của Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba, là chính Hành động “biết” Con của Cha: Chúa Cha “biết” Chúa Con và “tức khắc” sinh ra Chúa Con, Chúa Con được sinh ra” tức khắc” “biết” Chúa Cha,- và Hành động biết đó của Chúa Cha và của Chúa Con chính là Chúa Thánh Thần -, đó chính là sự sống Thần linh nội tại, Nguồn Sống của tất cả mọi sự sống, được mặc khải cho loài người qua và nhờ Chúa Con nhập thể và Chúa Thánh Thần.. . Sự Sống đích thực, như vậy, vốn là một sự Thông hiệp (x.1Ga 1,3), một sự kết hiệp hoàn hảo trong Chân lý tình yêu (Ga 17,26; 1Ga 2,3tt; 3,16...)... Đàng khác, là có ý nói rằng trong Kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa diễn ra trong lịch sử, Chúa Thánh Thần chính là Đấng mặc khải Chúa Cha và Chúa Con và, vì thế, chỉ có Ngài mới có thể làm cho con người “nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3), chỉ có Ngài mới mang lại cho con người sự sống đời đời, sự sống được hòa nhập vào dòng Sức sống vĩnh hằng như dòng ánh sáng vĩ đại phát ra từ trái tim Thiên Chúa và trở lại với Ngài...

Tuy nhiên, ở đây, có một điều cần lưu ý, một lần thay cho tất cả, là trong Kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa diễn ra trong Lịch sử, Kế hoạch của Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha là Đấng đã sai Chúa Con và Thần Khí của Ngài thực hiện Kế hoạch trong một sứ mạng liên kết (GLCG 689): Chúa Con nhập thể và Chúa Thánh Thần liên kết, một đàng trong sứ mạng mặc khải Chúa Cha nói riêng và nói chung mặc khải Mầu nhiệm Sự sống Tình yêu là Thiên Chúa Ba Ngôi, đàng khác, trong sứ mạng ban cho con người chính Sự sống Tình yêu ấy, như một ân huệ của Thiên Chúa, tức là những người khiêm tốn luôn luôn để cho Thiên Chúa dạy bảo mình (Ga 6,44tt; 10,14; 14,6; 8,28; 12,23.32; 7,39; 16,7; 14,26; 16,13; 14,7.20; 1Ga 1,3; Ga 14,19tt; 17,26; Pl 3,8tt; Rm 12,2; 1Cr 2,6-16; Cl 2,2tt; 1Cr 8,1; 13,2; Ep 3,19; 1Cr 13,12).

Như vậy, trong tư cách Ngôi Vị vĩnh hằng, Chúa Thánh Thần là Thần Khí hiểu biết của Chúa Cha và Chúa Con; trong tư cách Đấng được sai đi, cùng với Chúa Con, Chúa Thánh Thần là Thần Khí mặc khải Chúa Cha và Chúa Con; và trong tư cách là ân huệ của Chúa Cha và Chúa Con ban cho loài người, Chúa Thánh Thần là Thần Khí giúp con người thông hiểu được Mầu nhiệm Thiên Chúa được mặc khải ra trong Lịch sử, tức là Kế hoạch tình yêu của Ngài, thông hiểu được Thánh Ý Tình Yêu của Ngài là muốn tất cả mọi người đều hạnh phúc, tức là có được Sự sống Vĩnh hằng, và cuối cùng thông hiểu được rằng muốn được như thế, con người cần phải tuân theo Thánh ý của Thiên Chúa (1Tm 2,4; Mt 6,10; Dnl 30,14; Tv 1,2; 143,10; G 23,13; Is 55,11; Kn 9,13; Tv 33,11; Hs 2,16; Ed 36,26tt; Gr 31,33; Dt 10,7-9; Cv 13,22; Mt 11,25; Lc 12,32; Mt 7,21; 12,50; Ga 4,34; 5,30; 6,38tt; 15,10; 7,17; 14,23tt; 14,26; Rm 12,2; Cl 1,9; Pl 2,13; v.v...)...

Bài 8: THẦN KHÍ ĐỊNH LIỆU

Có 2 vấn đề được đặt ra:

1. Ý nghĩa của hạn từ “Định Liệu”

2. Chúa Thánh Thần, Thần Khí Định Liệu

I. Ý NGHĨA CỦA HẠN TỪ “ĐỊNH LIỆU”:

Hạn từ “Định Liệu” tạm được sử dụng để phiên dịch hạn từ “Conseil” (esprit de conseil) của Pháp ngữ. Trong Pháp ngữ, hạn từ Conseil có khá nhiều nghĩa (thí dụ: lời khuyên, sự chỉ giáo, sự cố vấn...), nhưng trong văn mạch của Is 11,1-2, ý nghĩa “quyết định đã cân nhắc kỹ” có lẽ là thích hợp hơn cả. Và hạn từ “định liệu” (dù hãy còn bất toàn!) cần phải được hiểu trong chân trời đó, tức là một sự quyết định sau khi đã được cân nhắc kỹ lưỡng...

Như vậy, trong văn mạch của Is 11,1-2, Sự Khôn ngoan chính là Thiên Chúa, là Lời, Thánh Ý và Ý Định của Ngài mà vốn được mặc khải nơi Chúa Con – Nhập thể và nơi Thần Khí của Chúa Con. Vì thế, người khôn ngoan chính là người luôn luôn lắng nghe, tìm hiểu để thông hiểu được Thánh ý của Thiên Chúa được tỏ bày ra trong lịch sử và trong các biến cố của lịch sử. Và một khi đã thông hiểu được rồi (đặc biệt dưới ánh sáng của lương tâm lành mạnh, ân huệ của Thần Khí Thiên Chúa ), con người cần phải quyết định dứt khoát, sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng các khía cạnh của vấn dề, tuân theo Lời Thiên Chúa chỉ dạy và điều này chỉ có thể thực hiện được nhờ Thần Khí do Đức Giêsu ban cho (Ga 14,26; Rm 12,2; Cl 1,9; 1,10; Ep 5,17; Pl 2,13)...

II. CHÚA THÁNH THẦN, THẦN KHÍ “ĐỊNH LIỆU”:

Điều này có nghĩa là trong những quyết định liên can vận mạng của con người thuộc loại này, con người luôn luôn được Thiên Chúa quan tâm giúp đỡ và chỉ bảo (Pl 2,12-13; Rm 12,2; x. Is 5,19; 14,26...; Gr 23,18-22; Mk4,12; Is 44,28; 46,10...; Hs 2,16; Ed 36,26tt; Gr 31,33; Is 50,5; Tv 40,8t; Is 53,10; v.v...). Và nếu như các ân huệ của Thần Khí là những tâm thái (dispositions) được Thiên Chúa gợi lên trong con người nhằm giúp con người thông lưu được với sự Sống thần linh của Thiên Chúa, thì Thần Khí Định Liệu hiện diện nơi con người vừa như một Ngôi vị Thần linh vừa như một ân huệ tạo điều kiện giúp con người có được những quyết định phải sống như thế nào để có được Hạnh phúc đích thực hay sự Sống đời đời...

Đàng khác, việc đưa ra một quyết định bao giờ cũng bao hàm một số yếu tố sau đây: chủ thể quyết định, hành động quyết định và chính đối tượng mà quyết định nhắm tới..., và để giúp con người có thể có được một quyết định liên hệ đến hạnh phúc đích thực và vĩnh cữu của đời mình, Thần Khí Định liệu chắc hẳn đã phải tác động lên toàn bộ những yếu tố đó:

1. Đối với chủ thể quyết định:

Con người, muôn thuở, nhiều hay ít, cách này hay cách khác, vẫn thường xuyên vướng phải hoặc có nguy cơ vướng phải tình trạng tha hóa, vong thân, đánh mất chính bản thân mình. Thế mà, để có thể có được những quyết định cân nhắc kỹ lưỡng, việc trước tiên con người phải làm đó là phải “trở nên chính mình” (Sois toi-même!). Nhưng muốn làm được thế, con người cần phải biết mình đang là gì, là ai, và đúng ra mình phải là ai và là gì... Từ đó, sản sinh ra một tâm thái- kép: một đàng là sự ăn năn sám hối (metanoein), một đàng là sự chuyển hướng nội tâm quay về với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính bản thân của mình (epistrephein). Thần Khí Thiên Chúa luôn luôn hiện diện trong toàn bộ quá trình đó và những nỗ lực đó... (Ed 36,26t; Mt 18,3t; 6,33; Lc 18,13; 15,2).

2. Đối với hành động quyết định:

Cũng như trong thực tại nội tại của sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Thánh Thần là Hành động của Thiên Chúa (Chúa Cha sinh ra Chúa Con, Chúa Cha yêu thương Chúa Con, Chúa Cha hiểu biết Chúa Con...; và ngược lại, Chúa Con đón nhận sự sinh ra bởi Chúa Cha, Chúa Con yêu thương Chúa Cha, Chúa Con hiểu biết Chúa Cha...), ở đây cũng vậy, Thần Khí Thiên Chúa, vừa như là một Ngôi vị vừa như là ân huệ, cùng hiện diện và cùng “định liệu” với chủ thể chính là con người... (Hs 2,16; Ga 14,26; Rm 12,2; Cl 1,9; Cv 15,28).

3. Đối với đối tượng mà quyết định nhắm tới:

Hay nói cách khác, đó chính là nội dung của quyết định, tức là: vấn đề phải sống như thế nào, phải làm gì để có được hạnh phúc đích thực và Sự Sống vĩnh hằng, khát vọng muôn thuở của tất cả mọi người... Ở nơi những nền luân lý tự nhiên, đó là làm điều thiện tránh điều ác, sống theo mệnh trời, hiếu thảo với Tổ tiên, tình phụ-tử, mẫu-tử, huynh-đệ, phu-thê, v.v... Ở nơi nền luân lý mặc khải sơ khai như Cựu Ước, đó là Lề Luật, là 10 Điều răn... Ở nơi nền luân lý mặc khải Tân Ước, đó là “nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3), tức là sự Sống trong và bởi sự Hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi... Và tất cả những nỗ lực đó, chỉ có Thần Khí Thiên Chúa mới thực hiện được, dĩ nhiên, cùng với con người...

Bài 9: THẦN KHÍ MẠNH BẠO

Có 2 vấn đề được đặt ra:

1. Hạn từ “ Mạnh bạo” trong ngôn ngữ Kinh Thánh

2. Chúa Thánh Thần, Thần Khí Mạnh bạo

I. HẠN TỪ “MẠNH BẠO” TRONG NGÔN NGỮ KINH THÁNH:

Trong ngôn ngữ Hipri, những khái niệm: “sức mạnh” (force), “năng lực” (puissance), “quyền lực” (pouvoir) là những chuyển từ từ các từ gốc or, wn, ms, gbr, hzq, hyl, kh,s, và trong Hy ngữ bởi các hạn từ dunamis, exousia..., được dùng vừa để chỉ sức mạnh thể lý vừa chỉ sức mạnh tinh thần.

Ngôn ngữ Kinh Thánh thường xuyên nối kết hai hạn từ “Thần Khí Thiên Chúa” và “Quyền Năng Thiên Chúa”. Hai hạn từ Thần Khí và Sức mạnh thường đi đôi với nhau và hầu như đồng nghĩa với nhau (St 1,2; Is 32,25; 44,3tt; Tv 104,30; Tl 3,10; 6,43; 13,25; 11,19; 14,6.19; Lc 1,35-37; Cv 10,38; Lc 4,14.18; 11,20; Mt 12,28; Ep 1,18-20; Cl 2,9; Pl 2,9-11; Mt 28,18; Pl 3,10; 2Cr 13,4; Rm 8,11; v.v...). Ở đây, có thể nói rằng câu nói sau đây của Cyrille d’Alexandrie hầu như phản ánh được toàn bộ vấn đề: “Thánh Thần là Quyền Năng và Hoạt động của Bản thể Thần linh. Người làm nên tất cả mọi công trình của Thiên Chúa” (Cyrille d’Alexandrie, Thesaurus, p. 75,580.608)...

Đã hẳn, hạn từ’ “Mạnh bạo” trong ngôn ngữ Kinh Thánh vừa hàm ý “sức mạnh thể xác” (Gs 1,6; Is 35,3tt; Lc 16,16; v.v..), vừa hàm ý “sức mạnh nội tâm” (1Ga 2,14; 5,18; Ep 3,16; v.v...) nhằm giúp con người có đủ khả năng thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa diễn ra trong và qua Lịch Sử (Lc 12,47; Mt 7,21; 21,31; Dt 13,21). Tuy nhiên, một điều hết sức quan trọng cần lưu ý, sự Mạnh bạo đó con người có được hoàn toàn là do Thần Khí Quyền Năng của Thiên Chúa ban cho...

II. CHÚA THÁNH THẦN, THẦN KHÍ MẠNH BẠO:

Cách chung, có thể nói rằng tất cả mọi hành vi cứu độ đều là công trình của Quyền Năng Thiên Chúa (Dnl 3,24; Tv 20,7; 106,2; 105,2; Lc 1,35; 2Cr 13,4; Rm 1,20; 2Pr 1,3; 1Cr 6,14; Mt 11,20; Mc 6,5; Mt 7,22; Cv 8,13; 1Cr 12,10; Mk 3,8; Lc 24,49; Ga 3,3-7; 1,12; Kh 2,26tt; v.v...). Để con người thấu hiểu và cảm nghiệm được điều đó, ngôn ngữ Kinh Thánh cho rằng Thiên Chúa đã hành xử một cách có vẻ nghịch thường: những công trình phi thường, vĩ đại lại được thực hiện bởi những con người bình thường, bé nhỏ, đôi khi có vẻ yếu đuối..., và với những phương tiện đơn sơ, bé nhỏ khiến người ta phải sửng sờ (1Sm 16,7; 10,23; Tl 7,2; Is 30,15tt; 2Cr 12,9; Tv 107,40; Tv 113,7; 2Cr 4,7; v.v...). Tuy nhiên, điều đó không đơn giản chỉ là vấn đề “phương pháp sư phạm” của Thiên Chúa mà thôi, mà còn là phản ánh một tình trạng thực tế của hiện hữu của con người, vốn là những thụ tạo hoàn toàn lệ thuộc Thiên Chúa: cả cái nó là và cả cái nó có (être et avoir). Sự lệ thuộc nói ở đây không phải là mối tương quan chủ-tớ vốn luôn luôn có nguy cơ triệt tiêu cá vị và phẩm giá lẫn nhau, mà là mối quan hệ Cha- Con, mối quan hệ mà nếu được “sống” thực sự sẽ phong phú hóa lẫn nhau trong tình yêu (Mt 11,25tt; 6,4.6.18; 25,32; 21,31tt; 8,12; 23,9; 7,7-11; 6,25-34; 5,44tt; v.v...) Nếu như, nói theo ngôn ngữ của Paul Ternant (x. ĐNTHTK. từ Cha), “Thiên Chúa không bao giờ là Cha chúng ta bằng lúc Ngài tỏ lòng yêu thương và tha thứ, và chúng ta không bao giờ là con Ngài bằng lúc ta cũng hành động như vậy đối với mọi anh em chúng ta”, thì điều cần thiết nhất đối với con người không là gì khác hơn chính là Sức mạnh để có thể yêu thương và tha thứ... Và Sức mạnh này không hẳn là để con người có thể chiến thắng những kẻ thù bên trong và bên ngoài mà đúng hơn là mạnh bạo dám để cho Thiên Chúa hoàn toàn chiếm đoạt mình và chiến thắng mình, dám để cho Thiên Chúa định đoạt và sử dụng đời mình theo Thánh ý của Ngài (Pl 1,21; Gl 2,20; Rm 1,13; 6,10t; 2Cr 5,15; 1Cr 15,28; Ga 17,3; v.v...). Đó chính là Sức mạnh của niềm tin hoàn toàn và tuyệt đối vào Thiên Chúa (có khi còn được gọi là Đạo lương tri, lẽ phải, Chính nghĩa, Thiên mệnh, Ý trời; v.v...) dám đánh đổi cả vận mạng cuộc đời mình. Và nguồn gốc của sự Mạnh bạo đó không ai khác hơn là chính Thần khí Sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng hiện diện trong con người vừa như một Ngôi vị vừa như Ân huệ mà con người có thể sở đắc hay nói đúng hơn, như ân huệ trong đó con người được “thông hiệp” với Sức mạnh của Thiên Chúa, tức là Chúa Thánh Thần để sống sự sống của Thiên Chúa là yêu thương...

Bài 10: THẦN KHÍ NHẬN BIẾT

Có 2 vấn đề được đặt ra:

1. Khái niệm “nhận biết” trong ngôn ngữ Kinh Thánh

2. Chúa Thánh Thần, Thần Khí Nhận biết.

I. KHÁI NIỆM “NHẬN BIẾT” TRONG NGÔN NGỮ KINH THÁNH

Trong ngôn ngữ Hipri hạn từ Yd (nhận biết) vượt qua trí thức trừu tượng và diễn tả một liên hệ hiện sinh: biết một cái gì chính là có kinh nghiệm cụ thể về cái đó (Is 53,3; Kn 3,13; Tl 3,1; Is 59,8; St 2,9.17; v.v...) và biết một người nào chính là có những mối quan hệ cá nhân với người đó (Dnl 33,9; St 4,1; Lc 1,34; Ed 12,15; Gr 31,34; v.v...) (x. ĐNTHTK, từ “Biết”)... Như vậy, đối với người Sêmita, khi nói “biết Thiên Chúa” có nghĩa là có những mối quan hệ cá nhân, trực tiếp, thân tình...với Thiên Chúa. Thế nhưng, điều đó diễn ra như thế nào khi mà Yavê luôn là Đấng siêu việt, siêu hình xa cách vời vợi (Xh 3,1-15; 33,18-23; 34,1-7; Tl 5,4t; Xh19,16; Is 6,2; Hs 11,9; Is 57,15; 40,25; v.v...)? Đối với Amốt, biết Thiên Chúa đó chính là được Thiên Chúa biết đến (Am 3,2) và là khám phá ra Ngài là nguồn gốc hiện hữu của mình. Như vậy, hành vi “nhận biết Thiên Chúa” vừa có nguồn gốc do Thiên Chúa vừa là ân huệ của Ngài, nghĩa là con người chỉ nhận biết được Thiên Chúa nhờ chính Ngài tự mặc khải mình ra cho con người ở nơi và khi mà Ngài muốn, và theo cách thức mà Ngài muốn, qua Lời và Thần Khí của Ngài (Dt 1,1-3; Mt 11,27; Ga 14,17.26; 16,13; v.v...).

Mối quan hệ cá nhân, thân tình của con người với Thiên Chúa, trong ngôn ngữ Cựu Ước, được diễn tả dưới những kiểu nói đặc biệt như “Thiên Chúa của...ai đó” (St 14,22; 16,13; 17,1; 35,7; 21,33; 14,22tt; 18,25; 49,24; 2Sm 23,3; Tv 18,3; 144,2; 84,10; 89,19; Mk 7,14; Tv 23,1; v.v...), “Ta đã nhìn thấy... Ta đã lắng nghe... Ta đã thấu hiểu... Ta quyết định... Ta sai ngươi” (Xh3,7-10)...

Mối quan hệ càng trở nên gần gũi, cụ thể, hữu hình hơn khi chính Ngôi Lời, Con Một của Thiên Chúa và là Thiên Chúa “mặc xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14; Rm 8,32; Cl 1,27; 2,2; Ep 2,18; 3,12; Ga 1,18; 17,3; v.v...)...

Vấn đề là làm thế nào cho con người nhận biết được Thiên Chúa...

II. CHÚA THÁNH THẦN, THẦN KHÍ NHẬN BIẾT

Thư 1 Gioan khẳng định: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,7-8).

1Ga 4,7-8, như vậy cho thấy “yêu thương” không chỉ là điều kiện để nhận biết Thiên Chúa, mà còn chính là “nhận biết”:

1. “Yêu thương nhau”, điều kiện để “nhận biết” Thiên Chúa:

Để có thể có được mối quan hệ cá nhân thân tình, cụ thể với Thiên Chúa, điều kiện trước tiên là con người phải yêu thương nhau, bằng một thứ tình yêu có tính liên vị, thân tình và cụ thể (x. Lc 10,29-37). Khi yêu thương ai tức là người ta đã “sinh ra” người đó, hay nói cách khác, người ta chấp nhận sự hiện hữu và sự hiện diện của người đó cùng với mình. Thế nhưng, khi nói con người yêu thương ai thì điều đó đồng thời có nghĩa là con người đã để Thần Khí Tình yêu yêu thương mình và tha nhân, vì thế, khi con người yêu thương nhau tức là con người vừa “được Thiên Chúa sinh ra” (1Ga 4,7b) vừa “sinh ra tha thể (Thiên Chúa và tha nhân)”...: đó chính là sự hiện diện liên vị hiện diện trong nhau như trong chính mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi (Ga 10,38; 14,10t; 17,21; 5,20.23; 10,15; 14,31; 17,24t; v.v...) và chính trên cơ sở chân trời đó, người ta có thể nói: biết là yêu thương và ngược lại...

2. “Yêu thương nhau” chính là “biết Thiên Chúa”:

Điều này chỉ có thể có trong điều kiện chính Thiên Chúa đã tự mình “đồng hóa” với nhân loại. Và điều này quả thực đã diễn ra trong mầu nhiệm Sáng tạo, Nhập thể và Cứu độ: trong mầu nhiệm Sáng tạo, bởi vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh và giống như Ngài (St 1,26-27); trong mầu nhiệm Nhập thể, bởi vì Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14; x. Mt 25,31-46; Cv 9,5; Ep 1,23); trong mầu nhiệm Cứu độ, bởi vì được cứu độ có nghĩa là được trở nên con của Thiên Chúa và được sống sự sống thần linh của Thiên Chúa- Ba Ngôi và Thiên Chúa trở nên Cha của loài người (2Tl 1,4; 1Ga 3,2; 3,1; Ga 1,12; Gl 1,5t; Rm 8,14-17; 6,4), hay nói cách khác, con người và vũ trụ “đi vào trong sự viên mãn của Thiên Chúa” (Ep 3,19): lúc ấy Thiên Chúa sẽ là “tất cả trong tất cả mọi người” (1Cr 15,28), và “tất cả trong tất cả mọi sự” (Ep 1,23)... Vì thế, 1Ga 4,20 đã khẳng định: “vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” và Paul Ternant đã vọng lại tư tưởng đó “Thiên Chúa không bao giờ là Cha chúng ta bằng lúc Ngài tỏ lòng yêu thương và tha thứ, và chúng ta không bao giờ là con Ngài bằng lúc ta cũng hành động như vậy đối với mọi anh em chúng ta”...

Như vậy, khi nói Thần Khí Nhận biết chính là nói về Thần Khí Tình yêu của Thiên Chúa, Đấng làm cho con người, khi yêu thương nhau, hòa nhập vào Cơn Lốc Sự sống Tình yêu Thần linh là chính Thiên Chúa Ba Ngôi.. . (Ga 17,3).

Bài 11: THẦN KHÍ HIẾU THẢO

Có 2 vấn đề cần được đặt ra:

1. Khái niệm “Hiếu thảo” trong ngôn ngữ Kinh Thánh.

2. Chúa Thánh Thần, Thần Khí hiếu thảo.

I. KHÁI NIỆM “HIẾU THẢO” TRONG NGÔN NGỮ KINH THÁNH.

Nói chung, đây là một hạn từ rất phức tạp và hàm hồ về mặt ngữ nghĩa và cả về mặt ứng dụng.

Từ gốc trong ngôn ngữ Hipri là hesed, trước tiên biểu thị mối tương quan nối kết họ hàng (St 47,29), bạn hữu (1Sm 20,8), “đồng minh” (St 21,23), và giả thiết có sự tương trợ hữu hiệu và trung thành (hesed / emet: hiếu từ / trung thành có liên hệ với nhau). Bản dịch LXX đã dịch hesed ra Hy ngữ là éleos vốn có nghĩa là “nhân từ”, và từ đó ra La ngữ là “missericordia” và ra Pháp ngữ là “misséricorde”. Các dịch gỉa tân thời đôi khi coi hesed như tương đương với hạn từ “piété” và Việt ngữ đã dịch “piété” ra là “đạo đức”... GLHTCG, bản Pháp ngữ không dùng hạn từ “piété” mà dịch hesed ra là “affection filiale” (“tình con thảo”). Thật ra, trong ngôn ngữ Cựu Ước, hesed nhấn mạnh mối quan hệ của Thiên Chúa với con người (“từ”) hơn là mối quan hệ của con người với Thiên Chúa (“hiếu”), vì thế, trong Việt ngữ, khi thì được dịch ra là “hiếu từ” (đức tốt của con đối với cha mẹ là “hiếu”, đức tốt của cha mẹ đối với con là “từ”) (x. Bản dịch ĐNTHTK, hạn từ “Hiếu Từ”), khi thì được dịch là “tín nghĩa” (bản dịch Kinh Thánh của Lm. Nguyễn Thế Thuấn)...Có thể nói ngôn ngữ Tân Ước coi cả hai mối quan hệ trong mối tương quan biện chứng và quân bình hơn, vì thế rất ít khi sử dụng hạn từ piété (gốc Hy ngữ là eusebes/ eusebeia). Trong bối cảnh của vấn đề phân chia “ ân huệ thứ sáu” của Is 11,1-2 (“sự kính sợ Giavê”) ra thành 2, có thể nói rằng việc nhấn mạnh mối quan hệ của con người đối với Thiên Chúa (“hiếu”) của GLHTCG, bản Pháp ngữ là điều hợp lý và có cơ sở... Đó là lý do tại sao hạn từ “Thần Khí Hiếu thảo” hay “Thần Khí của Tình con thảo” được sử dụng ở đây:

1. Cơ sở Cựu Ước:

Trong ngôn ngữ Cựu Ước những thời kỳ đầu, khái niệm Cha- Con trong mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người và ngược lại không bao giờ thuộc phạm vi nhục thể, nhưng thuộc lãnh vực luân lý và tâm linh và trong viễn ảnh tập thể và lịch sử nhiều hơn là cá nhân (Xh 4,22; Ds 11,12; Dnl 14,1; Is 1,2tt; 30,1.9; Gr 3,14; Hs 11,3t.8t; Gr 3,19; Tv 27,10; Cn 3,12; Kn 2,13-18; Gs 17,2;v.v..). Gần kỷ nguyên Kitô giáo, khái niệm Thiên Chúa là Cha dân Ngài và Cha mỗi tín hữu được ý thức cách mạnh mẽ và sâu sắc hơn (trong các văn phẩm của các Rabbi thời cuối Cựu Ước này, người ta gặp thấy nguyên văn công thức mà sau này Đức Giêsu đã sử dụng lại: “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời “).

2. Cơ sở Tân Ước:

Đức Giêsu Kitô hoàn thành điểm tinh túy của tư tưởng Dothái về tình Phụ-tử trong mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người và ngược lại: nếu loài người có khả năng trở thành con Thiên Chúa chính là vì Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa - làm người, tự bản tính là Con Thiên Chúa (Ga 1,12). Và nói theo ngôn ngữ của 1Ga 4,7-8, con người chỉ là con Thiên Chúa khi con người yêu thương nhau trong Thần Khí Tình yêu của Đức Giêsu Kitô, Thần Khí Tình yêu mà đã sinh ra tình Phụ-tử giữa Chúa Cha và Chúa Con trong thực tại Mầu nhiệm Ba Ngôi: “phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra...” (1Ga 4,7b)

II. CHÚA THÁNH THẦN, THẦN KHÍ HIẾU THẢO

Nếu như Tình yêu thương tạo ra tình Phụ-Tử giữa Thiên Chúa và con người và ngược lại, thì điều đó đồng thời cũng có nghĩa chính Thần Khí Hiếu thảo của Chúa Con tác sinh ra tình Hiếu thảo của con người đối với Thiên Chúa (Gl 3,26; Ep 1,5; Gl 1,5t; Rm 8,14-17; 8,29; Tt 3,5; Rm 6,4; Dt 12,5-12; Ga 1,12; 3,3.5):

“Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con Mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Bố ơi!”...” (Gl 4,6).

Cũng như trong vĩnh hằng và trong lịch sử, Chúa Cha hằng sinh ra Chúa Con và Chúa Con hằng đón nhận sự sinh ra bởi Chúa Cha trong và nhờ Thần Khí Tình yêu hỗ tương, con người nếu muốn luôn luôn vẫn là con của Chúa Cha, điều kiện tất yếu là phải luôn luôn yêu thương nhau trong Thần Khí Tình yêu hay Thần Khí Con thảo của Đức Giêsu Kitô.

Như vậy, tình Phụ–Tử nói ở đây là một mối tương quan luôn luôn ở trong tư thế năng động, nghĩa là ở trong hành động yêu thương chứ không chỉ là một mối tương quan tĩnh tại và thụ động như dựa trên huyết thống, dân tộc, cơ cấu... (Mt 3,9tt; Lc 19,9; Mt 5, 9; x. Mt 12,46-50). Bởi vì Thần Khí Hiếu thảo là Thần Khí khi ở trong hành động (en acte)...

Bài 12: THẦN KHÍ KÍNH SỢ THIÊN CHÚA

Có 2 vấn đề được đặt ra:

1. Khái niệm “Kính sợ Thiên Chúa” trong ngôn ngữ Kinh Thánh.

2. Chúa Thánh Thần, Thần Khí Kính sợ Thiên Chúa.

I. KHÁI NIỆM “KÍNH SỢ THIÊN CHÚA” TRONG NGÔN NGỮ KINH THÁNH

Nói chung, đây là một khái niệm diễn tả một thứ tình cảm tôn giáo: khi đối diện với thực tại thần linh, con người một đàng vừa sợ không dám đến gần (kính nhi viễn chi), đàng khác vừa cảm nhận như có sức cuốn hút hướng về đó (mysterium tremendum et fascinosum), chứ không phải là những thứ sợ hãi thông thường của con người, như sợ những thiên tai hoặc những cuộc tấn công của kẻ thù (Gr 6,25; 20,10). Vì thế, người ta gọi đó là tâm tình “kính sợ” (gốc Hipri là Yir’ah và gốc Hy lạp là phopos): vừa sợ vừa thích và vừa thích vừa sợ...

1. Trong ngôn ngữ Cựu Ước, hạn từ “kính sợ Giavê” hay “kính sợ Thiên Chúa”, chiếm một vị trí lớn lao hơn nhiều so với hạn từ “tình yêu” nhằm diễn tả một Vị Thiên Chúa nghiêm minh, siêu việt và đáng sợ... Tuy nhiên, sự kính sợ này không đóng khung trong nỗi lo âu, sao xuyến, mà còn kèm theo nỗi khát vọng và tình yêu đối với Thiên Chúa (Ml 1,6; Dnl 10,12). Nó chính là yếu tố cốt lõi của sự Khôn ngoan, là nền tảng của tôn giáo (Cn1,7; Gv 1,14-21; Tv 111,10). Các Ráp-bi của thời cuối Cựu Ước đã thích gọi Thiên Chúa là “Cha”...

2. Trong ngôn ngữ Tân Ước ít sử dụng hạn từ này; tuy nhiên, không phải là không biết tới như là một tâm tình tôn giáo trước Thiên Chúa (Dt 10,31; Gc 4,12; Mt 10,28; Ep 3,12; Rm 8,15; 1Ga 4,17; Lc 2,25; Cv 10,22; 1Cr 10,12; Rm 10,20; Pl 2,12; v.v...). Và chính Tân Ước, nhờ hiểu theo một nghĩa sâu xa đã làm cho nó trở nên một nhân đức chính yếu vốn là con đường cứu rỗi bằng đức tin: “Thiên Chúa chẳng thiên vị ai, nhưng bất luận dân nào, hễ ai kính sợ Ngài và thực thi công bình thì đẹp lòng Ngài” (Cv 10,34tt)...

II. CHÚA THÁNH THẦN, THẦN KHÍ KÍNH SỢ THIÊN CHÚA

Nói như vậy, trước tiên, có nghĩa tâm tình hay thái độ kính sợ Thiên Chúa mà con người có được chính là ân huệ của Thần Khí Thiên Chúa ban cho, và khi nối kết với tâm tình con thảo thì đó là do Thần Khí của Đức Giêsu Kitô... Vì thế, để có thể hiểu được cách dễ dàng và đúng đắn khái niệm “kính sợ Thiên Chúa” của Cựu Ước và Tân Ước, có lẽ nên nhìn nó qua lăng kính của điều mà tư tưởng Đông Phương gọi là thuyết “Chính Danh” (quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử: vua thì cho ra vua, quan thì cho ra quan, cha thì cho ra cha, con thì cho ra con):

1. Con người- thụ tạo đối diện với Thiên Chúa Tạo Hóa:

Tất cả mọi cái con người là (être) và có (avoir) đều là ân huệ được Thiên Chúa ban cho cách nhưng không và tự do. Vì thế, con người phải luôn sống trong tâm tình lệ thuộc và tri ân đối với Thiên Chúa, và không bao giờ được có ý đồ cướp quyền và thử thách Thiên Chúa (x. St 3,1-24; Lc 4,1-13; Mt 4,1-11; Dnl 6,13tt; v.v...): tâm tình lệ thuộc và tri ân ở đây chính là những dạng thức của tâm tình kính sợ Thiên Chúa...

2. Con người trần tục - bé nhỏ - yếu đuối đối diện với Thiên Chúa siêu việt - vĩ đại - toàn năng:

Ở đây, tâm tình kính sợ Thiên Chúa được diễn tả qua những thái độ hoàn toàn tin cậy, phó thác và cầu xin (Tl 6,23; Dn 10,12; Lc 1,13.30; Mc 6,50; St 15,1; 26,24; Is 41,10; Lc 12,32; Mt 6,25-34; Ds 21,34; Tv 23,4; 27,1; 91,5-13; v.v...)...

3. Con người – tội lỗi đối diện với Thiên Chúa - thánh:

Ở đây sự kính sợ Thiên Chúa được diễn tả qua những tâm tình ăn năn sám hối và xin được tha thứ (Hs 11,9; Is 8,13; Xh 19,10-15; Tv 51; Lc 5,8; Is 6,5; v.v...)...

4. Người-Con đối diện với Thiên Chúa-Cha:

Ở đây tâm tình kính sợ Thiên Chúa được diễn tả qua tâm tình hiếu thảo (Hc 1,11-20; Rm 8,15; 1Ga 4,18; Ga 3,20tt; Ep 3,12; v.v...)

Đó là những tâm tình, những phản ứng mà Đức Giêsu Kitô đã sống và đã kinh qua nhờ Thần Khí của Chúa Cha và đồng thời cũng là của chính Ngài trong tư cách Chúa Con và sau khi Đức Giêsu Kitô đã sống trọn vẹn những tâm tình đó, Ngài đã sở đắc trọn vẹn và tràn đầy Thần Khí, như Ân Huệ được ban cho, và đó chính là Thần Khí của Đức Giêsu Kitô, trong Chu trình Tình yêu “dâng hiến là nhận lại” (Ga 19,30)... và con người, có được những tâm tình đó cũng là do Ân huệ Thần Khí của Đức Giêsu Kitô ban cho...

(hết)
Linh mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung


dongcongNet sưu tầm 2010

INDEX

 
Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng Tỉnh Dòng) - web@dongcong.net (webmaster)